Hiển thị các bài đăng có nhãn HSMN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn HSMN. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 30 tháng 1, 2018

ĐÔI LỜI VỀ HỌC SINH MIỀN NAM (Bài phát biểu của thầy Nguyễn Việt Bắc trong buổi gặp mặt toàn thể HSMN ngày 27/1/18 tại TP HCM)



Kính thưa Quý Thầy Cô, Quý Đại biểu, cùng toàn thể anh chị em HSMN

Lời đầu tiên, xin được bày tỏ lời cảm ơn Ban Tổ chức cuộc họp mặt HSMN trên đất Bắc hôm nay đã cho phép tôi được lên phát biểu. Gần nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ khi các trường HSMN trên đất Bắc ngừng hoạt động, mỗi lần gặp mặt thày trò đều xúc động cùng nhớ lại mọi kỷ niệm tốt đẹp ngày ấy. 

Chúng tôi là những giáo viên miền Bắc, được Bộ Giáo dục chọn lựa và phân nhiệm về các trường Học sinh miền Nam ( HSMN ), nhiều người khi ấy còn rất trẻ, mới tốt nghiệp sư phạm. Điểm chung của chúng tôi là hiểu biết về trường HSMN còn rất ít, nhưng đều nghiêm túc thực hiện sự phân công của Bộ. Giờ đây, những năm tháng giảng dạy HSMN đã trở thành một trong những kỷ niệm tốt đẹp và đáng nhớ nhất của cuộc đời sư phạm. Xin được chia sẻ một vài ấn tượng sâu sắc:

1. Có thể nói, trong lịch sử giáo dục cách mạng Việt Nam, loại hình trường HSMN là loại hình độc đáo nhất, sáng tạo nhất. Cùng với quá trình phát triển cách mạng những năm từ 1954 đến 1975, dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong tình yêu thương của đồng bào, hàng loạt trường HSMN đã hoạt động trên khắp miền Bắc, nuôi dưỡng, giáo dục và tạo nền móng cơ bản cho sự trưởng thành của nhiều thế hệ HSMN. Độc đáo và sáng tạo vì đây là loại hình trường nội trú cho con em cán bộ, chiến sĩ đang trực tiếp tham gia chiến đấu ở miền Nam. Các thế hệ HSMN đủ lứa tuổi, xa quê hương, thiếu vắng tình cảm gia đình, nhưng cùng chung ước vọng và niềm tin học tập, rèn luyện để xây dựng quê hương sau ngày chiến thắng. Chúng ta đều nhớ tới lá thư của Bác Hồ lần đầu tiên viết gửi thày trò trường HSMN năm 1955. Người đã nhắn nhủ thày trò HSMN hăng hái học tập và công tác, sao cho đến ngày nước nhà thống nhất, là những người gương mẫu trở lại xây dựng quê hương. Đến nay, hầu hết anh chị em HSMN đã nghỉ hưu sau khi đảm nhiệm nhiều trọng trách tại các tỉnh thành miền Nam, đã góp công sức rất lớn cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước, thực tế đã chứng tỏ các thế hệ HSMN đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ cách mạng, hoàn toàn xứng đáng với kỳ vọng của Đảng, của cha anh đi trước. Như vậy, trường HSMN là loại hình trường độc đáo, sáng tạo và thành công nhất của giáo dục cách mạng Việt Nam.

2. Trong mỗi lần gặp mặt các thế hệ HSMN, dù ở bất cứ đâu, các thầy cô giáo đều nhận được nguyên vẹn tình cảm quý mến, trân trọng của các anh chị học sinh năm xưa. Chúng tôi cũng luôn nhận được những lời cảm ơn chân thành của các anh chị HSMN khi nhắc nhớ những năm tháng trưởng thành dưới mái trường HSMN trên đất Bắc. Trò biết ơn thầy cô là đạo lý dân tộc đáng quý. Nhưng cũng cần nói thêm: Chính từ những ngày tháng giảng dạy, công tác trong trường HSMN, từ những gắn bó, cảm thông, chia sẻ thầy trò, đã tạo nên nguồn động viên chúng tôi nâng cao chất lượng giảng dạy, giáo dục, động viên chúng tôi kiên trì rèn luyện, hoàn thiện bản thân, trưởng thành trong nghề nghiệp, trong tình cảm. Cùng sống, cùng chứng kiến những nỗ lực vượt khó vươn lên từ hoàn cảnh đặc biệt của HSMN, chứng kiến sự thành đạt sau này của các bạn HSMN, chúng tôi cũng xin được nói lời cảm ơn những học trò thương yêu đã góp công sức cho đất nước, cho dân tộc, vẫn trọn tình với Thầy Cô, với lớp cũ trường xưa.

3. Hầu hết nhà giáo chúng tôi sau khi rời trường HSMN đều tiếp tục công tác giảng dạy, quản lý trong ngành giáo dục. Trong giao tiếp công việc chuyên môn cũng như giao tiếp xã hội, khi nói tới HSMN, chúng tôi đều thấy rõ sự đánh giá cao của mọi người về các thế hệ HSMN, từ đó tiếp tục dành sự ưu ái, trân trọng cho chúng tôi, những nhà giáo đã từng góp sức trong các trường HSMN. Đây là điều hết sức đáng quý.
Mỗi dịp gặp gỡ HSMN dù ở bất cứ tỉnh thành nào các bạn đều tụ tập cực kỳ đông vui, nhiều Thầy Cô tuổi cao sức yếu cũng tha thiết cố gắng đến họp mặt. Chúng tôi chứng kiến ở đây cùng với tình thầy trò cao quý, có tình bằng hữu bạn học, tình anh em như ruột thịt, tất cả cùng chung nhau bốn từ giản dị Học Sinh Miền Nam. Như vậy HSMN chính là một GIA ĐÌNH LỚN, gắn kết, chia sẻ với nhau bằng cả tình thân gia đình!
Cùng trong một gia đình lớn nên những tâm sự của chúng tôi nêu trên hy vọng cũng sẽ là tâm sự chung của mỗi Thầy Cô, anh chị em HSMN hôm nay! 
Nhân dịp Tết Mậu Tuất sắp tới, kính chúc Quý Thầy Cô, Quý đại biểu cùng toàn thể anh chị em HSMN và gia đình một Năm Mới khỏe vui, bình an, may mắn và Hạnh Phúc. 

Nguyễn Việt Bắc 

Nguyên giáo viên Trường HSMN Đông Triều 

Thứ Hai, 12 tháng 9, 2016

Vài nét về số phận và tính cách Học sinh miền Nam

Trên Facebook, nhiều người đã đọc bài này từ Facebook Học sinh miền Nam và cha anh

Nay xin đăng lại trên siêu thị:

Vài nét về số phận và tính cách Học sinh miền Nam (Bản chính thức, đoạn kết)
Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp mặt thân mật đại biểu học sinh các trường miền Nam nhân kỷ niệm 02 năm Ngày lập lại hòa bình ở Việt Nam tại Phủ Chủ tịch, ngày 20 tháng 7 năm 1956.

Thứ Tư, 24 tháng 8, 2016

MỘT GÓC YÊN BÌNH CỦA SÀI GÒN

   LT Lợi (Bô Lợi) cùng vợ từ Đà lạt về Sài gòn.Hỏi đi thăm con hả ? Mô ,tau về nhà tau ở quận 7 chơi ít bữa.
  Mấy đứa bạn cùng lớp (Công bì lợn,HT Tâm,NV Sang ,HH Phương) họp ở nhà Công mắt tròn mắt dẹt.Tay này im im mà chơi ngon quá ta!Cuộc gặp bạn cũ HSMN vẫn ồn ào từng ấy chuyện nhưng giành nhau nói không biết chán ,lần nào cũng thấy háo hức như mới.Hai bà vợ lặng lẽ tách ra ngồi uống trà cười tủm tỉm ,chắc quen rùi ! He he...
 Thứ tư Lợi về ,cả bọn mới rủ chiều thứ ba ( 23/8) sang nhà Lợi chơi cho biết .Thế rồi  hẹn thêm mấy bạn cùng lớp (5B,6B,7C NVB) là Lê Thành ,Ngọc và Đức cống.
 Chiều mới hơn 3 giờ đã thấy Công kêu í ới ,lo sắp xếp công việc rồi zọt.
 Đến chân cầu Rạch Ông chờ một lúc thì Lợi ra đón ,cắp vội  thùng bia theo chân hắn vào nhà.Quẹo qua hai kiệt ô tô có thể đi được thì vào đên nơi.Nhìn ngôi nhà  xây còn mới hai mê khá đẹp ,trang bị đầy đủ tiện nghi ,lòng cảm phục mấy cha "Việt cộng ở núi" mà có tầm nhìn xa hổng chịu nổi.

 .Vợ hắn đang ra tay đổ bánh xèo thơm nức mũi ,mắt cười rạng rỡ.Đúng là có được người vợ đảm đang là món quà vô giá mà cuộc đời ban tặng !Hỏi mua đất khi nào mà làm nhà hoành tráng vậy ?Vợ Lợi mới thủng thẳng ,em mua cách đây mười mấy năm ,chưa đến 400 ,hổng cho ổng biết.Hóa ra bà vợ này còn có máu đầu tư bất động sản nữa ,dễ có mấy tay.
 Sau vài lần đón rước ,rồi mọi người cũng tụ họp đầy đủ ,thêm chú hàng xóm tên Quốc rất nhiệt tình.
Vẫn chuyện xưa cũ ,từ tập xe đạp ngã ,lén xem anh chị lớn "tâm sự" rồi đánh nhau tay bo của mây tướng tuổi choai choai dế mèn ...
 Hỏi vợ Lợi nghe có chán không ,lại cười ,được tập miễn nhiễm rùi  anh ơi !
Đang nhậu nhớ bạn xa gọi nhau ì xèo ,rồi Công gọi thêm Đức công .Bạn này đang học lớp 5B thì cùng với 4  bạn khác trốn tàu về nước xin đi bộ đội.Lúc ấy các bạn này là những anh hùng trong mắt chúng tôi .
Thần tượng vậy nên Bô Lợi kể đã làm đơn xin rút 3 tệ đê mua một cây bút kim tinh mới cáu tặng cho Đức .Sự ngưỡng mộ rất chi là hiện đại  mãi sau này Ban khen thưởng TƯ mới biết  kèm theo tấm giấy khên đỏ đỏ xanh xanh là một cái phong bì năng nặng ! Hì hì  ...

Thứ Tư, 13 tháng 7, 2016

“HẬU DUỆ CỦA… RỐN RỒNG”

“HẬU DUỆ CỦA… RỐN RỒNG”

  Ngôi trường chúng tôi học được xây dựng nằm lọt thỏm giữ bãi tha ma. Xung quanh trường cơ man là những nấm mồ vô danh hoặc có danh không chúng tôi cũng không biết, bởi lẽ một chữ bẻ đôi cũng chỉ là những nét loằng ngoằng đối với chúng tôi. Đó chính là Khu trường HSMN Quế Lâm ở Quảng Tây, Trung Quốc và chúng tôi là những HSMN từ Việt Nam sang đây sống và học tập suốt bảy, tám năm xứ người.
  Trường nằm biệt lập cách xa dân cư, xung quanh có tường cao tầm hai thước bao bọc và ba bốn cổng có lính TQ canh giữ ngày đêm. Những khoảnh đất trống gần bờ tường rào được chúng tôi tận dụng đào xới trồng rau củ các loại để cải thiện bữa ăn. Trên danh nghĩa đẹp là tự tăng gia sản xuất trồng trọt nhưng đối với những đứa trẻ mới chín, mười tuổi thì đó chính là lao động cực nhọc. Rồi những đợt thi đua theo  những giấc mơ “năm tấn”, “phân xanh đầy… hố” xen lẫn những đợt đột kích moi khoai móc lạc (đậu phộng) làm cho cuộc sống vốn yên ả của ngôi trường vẫn ngấm ngầm sôi.
  Không khí chiến tranh vẫn luôn bao trùm ngôi trường. Chiến tranh trong khắc khoải từ những thông tin về người thân  gia đình của mỗi cá nhân chúng tôi. Chiến tranh vẫn diễn ra hàng ngày trên quê hương đồng bào mình. Tiếng súng đì đùng lẹt đẹt của tàn cuộc cách mạng văn hóa vẫn còn vọng vô trường.  Chiến tranh còn xuất hiện ngoài khuôn viên tường rào của ngôi trường với nhũng biểu ngữ to đùng được khắc trên núi đá xung quanh trường “Khoét núi đào hầm, tích trữ lương thực, chuẩn bị chiến tranh” với giấc mộng chiếm lại Đài Loan.
“Ốc  đảo thanh bình” mà lũ nhóc hay tụ tập thả hồn vu vơ là một cái gò ngoài tường rào với những nấm mộ, lưa thưa vài cây thông còi, dưới đất toàn mấy túm cỏ dây gai mâm xôi. Để chiếm lĩnh gò này lũ nhóc cũng phải cất công rình mò và dùng chiến tranh “củ đậu”(ném sỏi đá) vào những đôi tình nhân của các anh chị lớp lớn thường hay ra đây giày xéo nát cỏ. Một con đường mòn loàng ngoàng lèo nghèo len giữa những nấm mồ, cặp sát dọc theo bức tường rào. Hàng đêm lính TQ đi tuần trên lối mòn này, còn ban ngày là đường đến trường của lũ nhỏ người TQ ở cái thôn phía Bắc khu trường.
  Hôm nay là ngày thường trong tuần nhưng lại là một ngày trọng đại gì đó trong chuỗi chục ngày trọng đại trong năm mà tâm trí lũ nhóc không thèm nhớ. Chúng chỉ thích vào những ngày này là trốn dự mít tinh ở hội trường. Loáng đã thấy ba bốn đứa tụ tập ở gò thông nhiều mộ, sương trên đám cỏ còn chưa tan làm ướt quần áo bọn chúng, gai cỏ mâm xôi đâm da thịt chúng, kệ, cứ tận hưởng giây phút tự do khoan khoái. Bỗng có những tiếng cười nói huyên náo vang lên, nhìn ra xa chúng thấy lô nhô bảy tám đứa nhóc TQ đang đi trên đường mòn về phía chúng. Thằng Hồng bựa thốt lên “Tao nghe có mùi bánh rán rồi đây” Hắn khệnh khạng đứng lên tiến lại lũ nhóc TQ, cả đám hùa theo. Lũ trẻ TQ cảm thấy bất an và ù té chạy. Thằng bựa túm ngay được một đứa, hắn giật cái túi và mở ra,”Hahaha…Tao đã nói mà”  Hắn vừa cười đểu vừa giơ lên bịch bánh chả biết là chiên hay rán. Thằng Hải bợm xúm vào lục túi tìm thêm và hả hê với cuốn chuyện tranh cũ nát. Thằng bé TQ sợ hãi cứ co rúm nhưng vẫn ghì chặt dây đeo túi sách. Thằng Ba chột sấn tới giựt phăng túi sách đổ xuống đất, vài ba cuốn tập và hai cuốn sách giáo khoa. “Để xem mày học lớp mấy!” vừa nói hắn vừa lượm cuốn sách lên giở vài trang. Thằng bé học lớp ba và cuốn sách nó mang theo có lẽ là cuốn địa lý vì có nhiều hình bản đồ minh họa bên trong. Chợt thằng Ba chột gầm lên, chỉ liên tục vào một bản đồ: “Sao lại vẽ thế này, đây là đảo của Việt Nam mà?” Thằng bé sợ hãi không hiểu điều gì đã xảy ra, nó ghé mắt nhìn vào bản đồ rồi nói” Tung của” và thế là nó bị ăn mấy cái đá. Lũ bạn nó đứng ngóng ở xa thấy vậy ù té chạy hết. Cả đám trả lại túi sách tập vở cho thằng bé, duy những chiến lợi phẩm là bị giữ lại. Thằng bé vội loạng choạng chạy mất.
  Chiều hôm đó vẫn như mọi khi, các chiến binh nhí lại phải xông pha ngoài vườn tăng gia gần tường rào. Thằng Bựa nhảy lên bờ tường rồi chợt nhảy thót xuống, nó gọi đám nhóc đến thì thầm. Té ra ngoài bờ rào đã có năm sáu anh thanh niên TQ lảng vảng chờ lũ nhóc xuất hiện là sẽ phát sinh vấn đề ngay. Trên các mảnh vườn mọi người vẫn hăng say tăng gia, riêng lũ nhóc thì tích cực chuẩn bị chiến tranh củ đậu. “Đếch sợ” thằng Bựa thốt  rồi tót lên bờ tường. Ngoài kia mấy đứa trẻ con TQ chỉ chỉ trỏ trỏ cho mấy anh thanh niên lực lưỡng. Bỗng thằng Bựa la lên: “Đưa tao thùng tưới” hai cái thùng tưới rau được nhanh chóng chuyển cho nó. Thế là Bựa nhà ta cứ ung dung vung vẩy tưới nước bờ tường và những đám cỏ gần đó. Nó cứ ra vẻ ta đây hăng say lao động lắm, chăm chỉ tưới… cỏ. Không hiểu sao trước hành vi của Bựa mà nhóm người TQ kia tản ra về mất tiu.
  Chiến tranh bị dập tắt bởi những tia nước tưới cỏ dưới ánh nắng chiều tà

SG 13-07-2016

Ba chột

Thứ Ba, 12 tháng 7, 2016

NHỮNG KỶ NIỆM KHÔNG QUÊN VỀ BAC LỘC !


   Những Kỷ niệm về Người Thầy, người Bác, người cha của cá thế hệ HSMN trên đất Bắc - NGND LÊ PHÚ LỘC!
   Tôi ở Quế Lâm về Đông Triều, tháng 9 năm 1975 tôi ở Đoàn Quảng Đà 3 về Miền Nam. HSMN QNam có trường nội trú Tam Kỳ, còn HSMN QĐà thì tùy nghi di tản. Tôi học trường TH Thái Phiên và tôi có Học bỗng nhận ở Ty GD QNĐN. Một buổi chiều cận Tết AL 1976, tôi đến Ty GD để nhận học bỗng về ăn Tết, bước ra sân chuẩn bị lấy xe đạp về thì tôi nhìn thấy bác Lê Phú Lộc, trước là PGĐ Khu GD HSMN Quế Lâm, lúc đó là Trưởng ty GD QNĐN. Tôi chào bác và bác cũng nhận ra tôi là HSMN QL. Bác hỏi thăm tình hình của tôi và các bạn ở Quế Lâm ở QNĐN. Tôi thưa thật với bác là các bạn còn theo học rất ít vì hầu hết HSMN có điều kiện khó khăn nên đã bỏ học đi làm mưu sinh. Bác hỏi thế các bạn đi làm những ngành nghề gì? Tôi thưa: Đa số các bạn gia nhập lực lượng công an, một số bạn nữ theo nghề dạy học... Bác nói thôi thì tùy hoàn cảnh mỗi cháu, nhưng bác thấy theo nghành công an cũng tốt, Miền Nam mới giải phóng, việc giữ gìn an ninh trật tự xã hội cũng rất cần những con người tâm huyết, bác tin là các cháu cũng sẽ rất tiện bộ, có điều kiện thì lại học lên cao. (Việc này là bác nói đúng: Sau này nhiều bạn tham gia lực lượng công an thời đó đã phấn đấu, học tập và trở thành các sĩ quan cao cấp, nắm giữ các cương vị lãnh đạo của nghành công an)
Tôi chào bác ra về, bác bảo : Đợi bác tí. Bác quay vào phòng và bước ra , trên tay là một gói mứt Tết. ( Chắc là tiêu chuẩn Trưởng ty của bác) Bác nói: Cháu cầm về ăn Tết. Tôi ấp úng: Thưa bác... Bác nói: Bác cho, nhận đi...Tôi lí nhí cảm ơn bác... Về quê, tôi nhìn kỹ gói mứt: Có đủ các loại mứt dừa, mứt gừng, kẹo trứng chim và cả mứt hạt sen... thời đó đây là món quà quý! Tết đó ngoài các món bánh quê má tôi làm, tôi có thêm món mứt bác Lộc hàng quý hiếm thời đó. Sau này, khi ra đời đi làm, tôi có điều kiện thưởng nhiều món ngon vật lạ, nhưng không bao giờ tôi quên được gói mứt bác Lộc cho Tết năm 1976.
   Với chúng tôi những HSMN Quế Lâm, bác Lộc không chỉ là người thầy mà còn là cha, là mẹ của chúng tôi trong những năm xa nhà xa quê xa Tổ quốc. Tôi vẫn nhớ hồi ở Quế Lâm, mỗi lần trường có liên hoan, bác ghé xuống nhà ăn hỏi chúng tôi: Các cháu ăn ngon miệng không? Chúng tôi đáp: Dạ ngon ạ! Bác cười: Sẽ ngon hơn nếu món nước chấm ngon. Ở đây thịt heo chấm xì-dầu thì làm sao bằng chấm nước mắm quê mình... Chúng tôi cũng chỉ biết: Da... 
Hôm Hội HSMN Quế Lâm tổ chức mừng thọ bác 90 tuổi, bác vui lắm, sau buổi tiệc tôi chở bác về bằng xe máy. Trên đường các bạn gọi điện thoại nhắc nhở đưa bác về rồi quay lại...tiếp tục...Tôi vừa chạy xe vừa nghe điện thoại. Khi đến nhà, trước khi bác vào nhà còn nhắc tôi: Cháu vừa chạy xe vừa nói chuyện điện thoại là vi phạm luật đó, lần sau rút kinh nghiệm nhé! Tôi biết lỗi nên ậm ờ!
Thế đấy, bác Lộc của chúng tôi là thế đấy!


   Giờ thì: Tôi vừa đi thắp hương kính cẩn lạy đưa bác về với tổ tiên! 
  Thầy Tảo, thầy Từ, thầy Oánh ( Các thầy giáo dạy ở Trường HSMN Quế Lâm ) đại diện cho các thầy cô từ Miền Bắc vào đưa tiễn bác. 
Bác yên lòng bác nhé! Bác có quyền tự hào về chúng con những thế hệ HSMN, con cháu của bác đã làm việc cống hiến hết sức mình cho xã hội, cho đất nước!
  Và chúng con cũng tự hào có một người thầy, người bác, người cha như bác cả đời cống hiến hết mình cho sự nghiệp trồng người! Bác luôn là tấm gương sáng cho chúng con noi theo!
Vĩnh biệt bác: Người thầy, người cha của chúng con !

Thứ Năm, 7 tháng 7, 2016

Nhà giáo nhân dân Lê Phú Lộc: Người cả đời đồng hành với nền giáo dục cách mạng Việt Nam

Thầy trò bên nhau 

.
Nhà giáo nhân dân Lê Phú Lộc bắt đầu đứng trên bục giảng của nhà trường cách mạng từ năm 1948, trong vùng tự do Liên khu 5. Theo sáng kiến của đồng chí Phạm Văn Đồng - đại diện Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa tại miền Nam Trung Bộ, Trường Trung học Bình Dân miền Nam Trung Bộ được thành lập tại huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi và khai giảng niên khóa đầu tiên vào ngày mồng 6 tháng 9 năm 1947.
Rời cơ quan Tỉnh ủy Quảng Nam-Đà Nẵng theo sự điều động của tổ chức, người đảng viên Lê Phú Lộc, với hành trang chủ yếu là trình độ học vấn tốt nghiệp tú tài, một trình độ đương thời có thể xem là quý hiếm, đã vào Quảng Ngãi dạy Toán tại trường trung học bình dân đầu tiên ở nước ta (trong số những đồng nghiệp dạy cùng trường với ông hồi ấy có nhà thơ Tế Hanh dạy Văn)… So với số đông học viên là cán bộ đi học, ông hãy còn rất trẻ, bởi khi đó ông mới 26 tuổi và mới được kết nạp vào Đảng đầu năm 1947.
Năm 1985, ông kể với người viết bài này rằng, đồng chí Phạm Văn Đồng - Hiệu trưởng danh dự của nhà trường từng động viên ông ngay trong những ngày đầu ông nhận nhiệm vụ thọ nhơn/trồng người cao quý này: “Giáo dục cũng là một mặt trận”. Câu nói như một mệnh lệnh chiến trường ấy đã luôn thôi thúc ông trong suốt quá trình mấy mươi năm đồng hành với nền giáo dục cách mạng Việt Nam. Sau một thời gian đứng lớp, ông được giao trọng trách Hiệu trưởng nhà trường cho đến khi Trường Trung học Bình Dân miền Nam Trung Bộ kết thúc nhiệm vụ lịch sử vào năm 1952. Có thể nói, Nhà giáo nhân dân Lê Phú Lộc sớm bộc lộ tố chất của một nhà quản lý giáo dục, sớm trở thành người đứng đầu đội ngũ thầy cô giáo trong trường học (trong 34 năm gắn bó với nghề, đã có 24 năm ông làm cán bộ quản lý giáo dục).
Nhà giáo nhân dân Lê Phú Lộc “có duyên” với cái ghế hiệu trưởng đến mức niên khóa 1954-1955, trước khi xuống tàu tập kết ra miền Bắc theo tinh thần Hiệp định Genève tháng 7-1954, ông còn được tổ chức phân công làm Hiệu trưởng Trường cấp hai huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Và ngay khi mới đến Hải Phòng vừa giải phóng, ông được phân công làm Hiệu trưởng Trường Học sinh miền Nam số 24, sau đó lần lượt làm Hiệu trưởng Trường Học sinh miền Nam số 8, rồi Hiệu trưởng Trường Học sinh miền Nam số 6.
Năm 1965, Nhà giáo nhân dân Lê Phú Lộc được Bộ Giáo dục điều động về Hà Bắc làm Phó Hiệu trưởng Trường Trung cấp Sư phạm hệ 10+2 trực thuộc Bộ - một hệ đào tạo giáo viên cấp hai toàn cấp vừa được triển khai thí điểm lúc bấy giờ. Tuy nhiên, với hơn 10 năm kinh nghiệm quản lý trường học sinh miền Nam, đến năm 1967, một lần nữa ông được Bộ Giáo dục tín nhiệm cử sang Trung Quốc làm Phó Giám đốc - Phó Bí thư Đảng ủy Khu Giáo dục Học sinh miền Nam đang sơ tán tại Quế Lâm, tỉnh Quảng Tây để tránh bom đạn khi Mỹ đã mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền Bắc.
Nơi đất khách quê người, ông càng thấy nhớ miền Nam, càng thấy nhớ làng Cẩm Toại quê ông… Ngày 31-10-1974, ông làm thủ tục nhập cảnh để trở về Tổ quốc và đến ngày 28-4-1975, tức một tháng sau ngày Đà Nẵng được giải phóng, Nhà giáo nhân dân Lê Phú Lộc nhận Quyết định số 295/QĐ của Bộ Giáo dục, do Thứ trưởng Hồ Trúc ký điều động cán bộ/giáo viên về công tác tại Ban Tổ chức Trung ương để chuẩn bị vào Nam tiếp quản ngành Giáo dục tại các tỉnh mới vừa giải phóng. Cầm trên tay bản trích sao Quyết định số 295/QĐ có hai dòng chữ đánh máy: “Trường học sinh miền Nam Quế Lâm / Lê Phú Lộc, Phó giám đốc”, ông “không khóc nhưng vẫn trào nước mắt” (bài thơ Hôn mảnh đất quê hương của Thu Bồn) và trong giây phút đầy xúc động ấy, ông thấy mình đang ở gần lắm quê nhà sau bao năm xa cách.       
Những ngày đầu giải phóng, Nhà giáo nhân dân Lê Phú Lộc được phân công làm Hiệu trưởng Trường Trung học Phan Châu Trinh Đà Nẵng. Sau khi tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng được thành lập trên cơ sở hợp nhất tỉnh Quảng Nam và Đặc khu Quảng Đà, ông trở thành Trưởng ty Giáo dục và đảm đương chức vụ này cho đến ngày nghỉ hưu năm 1981. Đây là giai đoạn chuyển đổi đầy sôi động trong lịch sử giáo dục đất Quảng, nào là chỉ có trường công không còn trường tư, nào là sự lên ngôi của tiếng Nga trong dạy-học ngoại ngữ, nào là yêu cầu tiếp cận/thích nghi với chương trình và sách giáo khoa mới, đặc biệt là các môn văn chương và lịch sử… Làm người đứng đầu ngành Giáo dục cách mạng trong giai đoạn mang tính chất tiên phong khai mở này hoàn toàn không dễ.
Thế nhưng, lặng lẽ và khiêm nhường, hóm hỉnh và đôn hậu, điềm tĩnh và tự tin, Nhà giáo nhân dân Lê Phú Lộc đã mang hết tài năng và tâm huyết của một người luôn xác định “Giáo dục cũng là một mặt trận” để hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của mình, đóng góp xứng đáng vào tiến trình phát triển giáo dục của đất Quảng nói chung, của thành phố bên sông Hàn nói riêng. Người viết bài này có cơ duyên được gặp ông lần đầu vào năm 1980 tại Nhà khách Bộ Giáo dục ở đường Lê Thánh Tôn (thành phố Hồ Chí Minh), trong hội nghị chuyên đề về giáo dục con liệt sĩ. Nghe nói tôi là người Đà Nẵng công tác tại Ty Giáo dục Đồng Nai, ông tỏ ý “chiêu dụ” tôi về quê. Năm 1981, tôi làm đơn xin về Đà Nẵng, kèm theo một bức thư riêng gửi ông để nhắc lại cuộc chuyện trò năm trước, được ông vui vẻ chấp thuận, nhưng đầu năm học 1981-1982, khi tôi được tiếp nhận về Ty Giáo dục Quảng Nam-Đà Nẵng thì ông đã nghỉ hưu...  
Tối chủ nhật ngày 14-6 năm ngoái, tôi cùng với các anh Nguyễn Hoàng Long, Huỳnh Đức Thơ, Lê Trung Chinh, Lê Quang Sơn… ngồi ăn cơm với cô Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó Chủ tịch nước, nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục thời Nhà giáo nhân dân Lê Phú Lộc đương chức Trưởng ty, thì được biết ông đang nằm hồi sức cấp cứu ở Bệnh viện C mấy hôm rồi. Nghe tin, mọi người đều rất lo lắng cho sức khỏe của ông, sợ rằng tuổi ông đã cao, bệnh tình lại nặng…
Hơn một năm trôi qua kể từ tối hôm ấy, ông vẫn nằm trên giường bệnh với sự chăm sóc tận tình của con cháu, cho đến chiều nay - mồng 5 tháng 7 năm 2016, ông từ giã cõi đời này trong niềm tiếc thương vô hạn của gia đình và họ tộc, của đồng nghiệp và học trò cũ. Mấy dòng viết vội như một nén nhang lòng thành kính thắp lên vĩnh biệt Nhà giáo nhân dân Lê Phú Lộc - người cả đời đồng hành cùng nền giáo dục cách mạng Việt Nam. Cầu mong ông được yên nghỉ nơi cõi vô cùng…  
Bùi Văn Tiếng
;
.
.

Chủ Nhật, 19 tháng 6, 2016

Hội HSMN Quảng Trị gặp mặt nhân ngày HSMN

    Quảng Trị, quê cha, quê mẹ yêu thương của MF, nơi chôn rau cắt rốn của MF. Nơi MF bắt đầu hành trình làm một HSMN. Nơi có căn nhà nho nhã giản dị của tổ tiên MF để lại giữa một miền quê bọc tre xanh yên bình bao quanh đồng lúa vàng rộm thơm phức mỗi mùa về, có tên gọi Đồng Triêu mơ màng. Nơi tiếng cu gáy gù và giọng hò ru em quyện vào nhau trong những trưa hè trong veo. Rồi chiến tranh, đây là nơi đã hứng chịu vết thương chia cắt hai miền 20 năm trời đằng đẳng đau thương. Là nơi bom, đạn găm đầy trong từng mét đất, đâu đó vẫn còn cho đến tận bây giờ. Là nơi ngôi nhà khi trở về chỉ còn là hố bom và gạch vụn. Là nơi có tòa Thành Cổ chu vi chỉ 2160 mét, nhưng trong 81 ngày đêm đã chịu một lượng bom đạn ném xuống bằng sức tàn phá của 7 quả bom nguyên tử người ta từng ném xuống Hirosima lịch sử, mà Hirosima nổi tiếng thế giới từ đó chơ miếng đất này hiền hiền khuất tiếng sau những ngày dừng trút của đạn bom. Nơi bên này, bên kia giới tuyến đong đầy thương mong của những tâm tình ngày Bắc đêm Nam. Bởi nó là thế, nên đến giờ mảnh đất này vẫn nghèo, vẫn khó, cho dù vạn vật thay đổi khi quá khứ cuộc chiến đã qua đi 40 năm…
      Nghe các đại ca dìu dặt gọi mời ra họp mặt, MF bận tối mắt nhưng nói chắc nụi “em ra chớ!”. Đó là cuộc gặp mặt của hội HSMN Quảng Trị. Không biết họ đã hội họp bao giờ, nhưng lâu nay tiếng tăm của hội này khá trầm lắng. Có lẽ đó là tính cách con người Quảng Trị, chân tình mà giản dị, mạnh mẽ nhưng khiêm nhường. Tuy vậy trong MF luôn cảm nhận được sự tồn tại của hội này. Ngày mạ MF mất, hội này lặng lẽ về sắp một hàng dài thăm viếng. Dù sự ra đi của mạ làm MF rất rối lòng nhưng MF đã ghi nhận hình ảnh hàng người này rất sâu. Kêu gọi con em rồi, mà như sợ nó không ra, lại gọi tiếp, tiếng anh Cần, anh Châu, anh Bình … Kẹt cái là cái con Mazda bị thằng Quế con nó cho vào gara bảo hiểm, phải hợp tác với Quế Hồ Nga. Lúc đầu tính thuê cái xe chạy, nhưng sau hắn sắp xếp được cái xe của ông anh chồng, kéo theo thằng Quế con nhà hắn làm tài cho chị em. Trên đường đi mà các anh cứ kiểm tra: em đến đâu rồi? Cảm động rưng rưng! Đến Đông Hà thì các đại ca đã chờ trên đường quốc lộ 1 đón, mặc dù đã nói ”địa chỉ đã có, em tìm đến được mà”. Thế là cả đoàn các anh đón các em về dự buổi họp mặt.
Không khí mặn mà tình thương, dù các đại ca đang còn băn khoăn cả tên hội và cách tổ chức. Nhưng, HSMN mà, miễn được gặp lại nhau. Có đủ cả hội Đông Triều, hội Quế Lâm.

Tình cảm, nồng ấm, chân thành. Đó là cảm nhận vương vấn mãi khi MF ra về.
Anh Bính khai mạc
Anh Cần đang làm công tác tổ chức
Tâm tình của ban tổ chức

Thứ Bảy, 26 tháng 9, 2015

Nhớ Anh Trần Văn Hoàng




   Bao nhiêu lần định viết về anh, nhưng rồi lần lữa mãi do công việc cũng có mà chính là lười viết, cho đến hôm nay trước ngày giỗ đầu của anh (năm thứ ba). Thế mà đã tròn ba năm ngày anh về với mẹ, trung Thu năm 2012. Anh và tôi cùng họ Trần nhưng anh ở Duy Xuyên tôi Điện Bàn với hai nhà thờ Tổ khác nhau. Cuộc đời đưa đẩy để anh em chúng tôi gặp nhau, sống và công tác cùng nhau một thời. Không làm lễ cắt máu ăn thề nhưng trong thâm tâm anh coi tôi và thằng Tám (Nguyễn Đỗ) như hai đứa em ruột và hai đứa tôi cũng coi anh như anh Hai mình.
   Nhớ lại hồi 1982, lúc đó tôi còn sinh viên tham gia dọn nhà cho ông bạn Quế Dương Xuân Bình, hắn chiếm đại một căn hộ trong khu tập thể trường Trung cấp vừa giải tán, vợ hắn sắp sinh con đầu lòng mà không có chỗ chui, đành thế. Đang loay hoay dọn dẹp nhìn sang căn hộ bên cạnh thấy một cha trông mặt quen quen. Hỏi Xuân Bình: Ai vậy? À, đó là anh tên Hoàng, nghe đâu cũng là HSMN Đông Triều. Nhìn qua thấy phu nhân ông anh HSMN lớp trước cũng mang bầu lặc lè. Vậy là cùng cảnh ngộ với Xuân Bình, nên quả liều giống nhau. Lân la hỏi thăm mới biết anh học lớp 10K năm 1975 ở Đông Triều. Và rồi tôi nhớ ra anh: Anh Hoàng ở Duy Xuyên. Ừ, răng biết. Anh không nhớ em? Hồi ở Quế Lâm về năm 75 em ở phòng anh. A, mày là em thằng Ba Mập, Dũng nhớ rồi. Hồi ở Hà Nội tao gửi sách sức bền và vẽ kỹ thuật về cho mày mà gặp thì quên mất, hèn gì tao thấy quen quen. Những năm sau giải phóng, trường mới sách vở thiếu phải học chung, tôi gửi thư cho ông anh học Trường An ninh, anh ấy nói lại với anh Hoàng BKHN nên được hưởng lợi ( Chắc là anh cũng chôm của trường gửi cho thằng em, chứ mần chi có của riêng, là tôi suy diễn thế).
    Ở Quế Lâm về tôi theo chị Hai tôi về K20 trên Phú Thọ nên về Đông Triều sau các bạn trong lớp. Hội Quế Lâm về ở Khu lớp học, trải chiếu nằm nền xi-măng. Anh Huỳnh Văn Tân đón tôi ở Hà Nội đưa về Đông Triều và cho tôi vào ở với lớp 10K, lớp cũ của anh Ba tôi, lúc đó còn chưa đến chục anh chị vì nhiều người đã vượt tuyến về thăm quê Miền Nam. Tôi tự nhiên được trở thành “học sinh chờ 10K” đúng nghĩa ( được phân cho một cái giường, có chăn mùng và ăn cơm ké ) ( Không phải “học sinh 10 K chờ”). Tôi nhớ ở lớp 10K lúc đó ngoài anh Trần Văn Hoàng còn có các anh: Nguyễn Đình Chiến, Trần Phước Hảo, Thái Võ Trang, Võ Cang (mập),Võ Thanh, Minh Chiến, Phước, Long…Mấy hôm sau thì có anh Ngũ về Miền Nam mới ra. Tóc dài, áo chẽn, quần loe, dép sapo, đúng mốt Miền Nam lúc đó, trông bảnh chọe. Đến bữa ăn, các anh nhận cơm từ nhà bếp về phòng ở, anh Hoàng cấp cho tôi một cái thìa và bảo: Ăn cơm Dũng. Tôi đang lúng túng không biết xoay xở ra sao thì thấy các anh đã xúm quanh mâm cơm dưới nền nhà mỗi người một cái thìa và…xúc. Tôi cũng là theo, rồi quen dần. Có một hôm đến bữa ăn, mọi người đang chuẩn bị thao tác thì thấy có một anh da trắng trẻo, người dong dỏng bước vào phòng. Các anh gần như đồng thanh: Mời thầy ăn cơm! (Sau này tôi biết đó là thầy Bắc dạy toán và cũng là chủ nhiệm lớp chuyên toán 10K) Tôi thấy thầy thò tay vào túi quần sau rút ra một cái…thìa và cùng ngồi ăn cơm tự nhiên với chúng tôi. Với mọi người, ngay cả thầy Bắc có khi không nhớ, nhưng tôi kẻ ăn ké lớp 10K năm 75 thì đây là bữa ăn đặc biệt nên nhớ dai lắm. Rồi các anh nhận giấy báo điểm thi đại học người vừa lòng kẻ không vui. Tôi theo đoàn về lại Miền Nam. Đến giờ trong số lớp 10K năm 75, tôi gặp lại một số người hôm được mời dự họp lớp với các anh chị tháng 7-2012, nhưng còn nhiều người tôi cũng chưa có dịp gặp lại. Riêng anh Trần Văn Hoàng thì gắn bó như anh em ruột thì nay anh đã đi xa mãi mãi.
    Run rủi thế nào sau hai lần đổi quyết định phân công công tác ở Tổ chức chính quyền tôi lại về cùng Công ty với anh. Tôi nhân viên Phòng Kế hoạch, anh trưởng Phòng Kỹ thuật Công ty Khai thác Thủy sản QN-ĐN. Rồi khi di chuyển đoàn tàu đánh cá vào phía Nam, anh trưởng Đoàn tôi làm phó cho anh. Mũi Né - Phan Thiết, Vũng Tàu - Côn Đảo, Kiên Giang- Phú Quốc…những nơi mà anh em chúng tôi đã từng trú ngụ để tổ chức cho đoàn tàu Đà Nẵng di chuyển khai thác hải sản ở những ngư trường mới hiệu quả hơn. Công việc vất vả, nắng mưa, bão gió cộng với nỗi nhớ gia đình…anh em chúng tôi đã thương nhau càng thương nhau hơn. Với thương hiệu HSMN chúng tôi đi đến đâu cũng đều được các anh chị là các cựu HSMN đang là lãnh đạo chính quyền, các công ty… quý mến, giúp đỡ, tạo mọi điều kiện tốt nhất cho chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ.
Khi đưa đoàn tàu lên ụ (như một cái hồ nước lớn, có cửa để đưa tàu vào rồi bơm nước ra, tàu sẽ nằm trên cạn ) để sửa chữa sau vụ cá Nam, hợp đồng ban đầu là 40 triệu (vàng 1,5 triệu/lượng), nhưng sau khi thăm hỏi làm quen ông anh giám đốc Xí nghiệp trục vớt Ba Tòng cựu HSMN Đông Triều lứa BTCN, gặp hai thằng em cựu HSMN ĐT lứa sau, “Zui quá, gặp tụi bay zầy là zui rôi! Đi nhậu đã, có món trục lắp hộp số hay lắm. Tụi bay đi zới anh. Nhâu nhiệt tình thì giảm giá, hổng nhệt tình thì có khi giá phải tăng.” Anh Ba Tòng kéo chúng tôi đi nhậu tới bến cấm nói chuyện công việc. Trong khi nhậu anh kể: Hội HSMN Sông Bé (lúc đó còn là một tỉnh) có Đồn điền cà-phê, cao su riêng nên quỹ Hội chúng sung lắm. Có thằng Ba Hiếu PGĐ Sở… tỉnh trù trì. Hội Zũng Tàu bọn tao đã quyết định một thằng trung tá nghỉ hưu để quản lý Nhà máy nước đá của hội, lấy quỹ lâu lâu tụ họp nhậu chơi…Anh quy ước khi triển khai đưa tàu vào ụ, anh Ba chỉ tiếp mấy thằng bay từ 16g30. Ngày hôm sau hợp đồng chỉ còn giá trị dưới 20 triệu đồng. Khi kết thúc hợp đồng, công việc sửa chữa tàu hoàn thành tốt đẹp, anh Ba Tòng nói với tôi: Việc xong, tốt đẹp. Để tạo điều kiện cho anh em mình: Tao làm quyết định thưởng bọn bay, bọn bay thưởng lại anh , mới có tiền nhậu tiếp chứ? Tôi thấy có lý, giá anh Ba giảm cho mình quá hời, công việc lại tiến triển suôn sẻ, nên bàn với anh Hoàng để hợp thức hóa thì thực hiện phương án anh Ba Tòng đưa ra là tối ưu. Dạo đó cơ chế còn bao cấp nên tiền bạc cũng khó khăn, thủ tục cũng khá rườm rà. Anh Hoàng không đồng ý, lý do tiền Nhà nước không đụng đến, anh V Giám đốc tin tưởng hai anh em mình, làm thế tao thấy không hay. Thôi, nói lại anh Ba Tòng thông cảm. Anh Ba Tòng cười, đúng là mấy thằng khu eo, nhác gan thế. Nói thế rồi anh rủ chúng tôi đi nhậu và cười trừ với mấy thằng em HSMN eo.
Thế đó, anh Hoàng của chúng tôi trong công việc thì trách nhiệm đầy mình. Khi ra trường anh xuống trực tiếp làm thợ sửa chữa tàu, anh thuộc từng con bulon ốc vít của tàu cá, nên khi làm trưởng phòng kỹ thuật, chẳng có chú thợ máy nào qua mặt được anh. Công nhân tiện, hàn làm chưa chuẩn anh đứng máy tiện, cầm mỏ hàn làm mẫu trực tiếp cho họ thấy. Trong sinh hoạt thì mẫu mực luôn là người anh cả của chúng tôi. Trong công ty ai cũng yêu mến và tôn trọng anh. Sau đó anh xuống đi tàu Vận tải viễn dương (thời đó là ghê gớm lắm) được ba chuyến đang cải thiện được đời sống, nhưng vì công việc lãnh đạo công ty yêu cầu lên bờ để phụ trách đoàn tàu cá đang khai thác tại Kiên Giang anh sẵn sàng nhận nhiệm vụ khó khăn cực khổ hơn.
     Biết bao nhiêu kỷ niệm về anh, nhưng với bài này làm sao kể hết. Trong bài “Nhậu với Giám đốc Nông trường Quyết Thắng” Nhân vật anh H – trưởng phòng Kỹ thuật chính là anh Hoàng của tôi đó.
Tối hôm trước ngày anh mất, tôi ngồi với anh, khi chỉ còn hai anh em, anh bảo tôi: Mày bóp cái chân anh chút, mỏi quá. Không ngờ đó là những lời cuối cùng anh nói với tôi, sáng hôm sau anh ra đi mãi mãi. Khóc anh tôi không dám khóc thành lời. Anh ra đi tôi thấy “hụt hẫng”. Má tôi khóc: Sao mà nó chết trẻ thế trời ơi. Anh là bạn tâm giao của bà, vài ba hôm lại ghé qua nói chuyện với cụ, cụ coi anh như mấy đứa chúng tôi. Anh thường nhắc nhở anh em tôi còn mẹ là có phúc, bọn bay phải chú ý ngoài việc lo cho bà, còn phải tâm sự hỏi han, người già thích tâm sự. Anh mồ côi cha mẹ sớm, nên thiếu thốn tình cảm, anh luôn coi mẹ chúng tôi như mẹ anh. Anh ra đi cả xóm tiếc thương anh…
Thấy chị Minh Tâm lớp 10K đã đăng bài trên FAC nói về anh Trần Văn Hoàng nhân giỗ đầu của anh trong khi bài này tôi đang viết dỡ dang. Thôi thì bài viết này như nén nhang thắp anh trong ngày giỗ. Sáng ra tôi sẽ qua thắp nhang và dự đám giỗ anh. Tôi sẽ thắp hương thay cho bạn bè anh em không đến được.
   
    Anh Hoàng ơi, ba năm rồi ngày anh đi xa, nhưng em vẫn như thấy bóng anh còn đâu đây, sự hụt hẫng thiếu anh vẫn còn trong em. Trên bàn thờ ảnh anh vẫn nụ cười tươi roi rói.
Trung Thu 2015, Kỷ niệm 3 năm ngày mất của anh Trần Văn Hoàng

Thứ Bảy, 18 tháng 4, 2015

ĐÊM YÊN SINH


Hồi ký- Đàm thị Ngọc Thơ

    Hồi đó tôi đã không tìm hiểu xem những tên gọi:Yên Sinh, Yên Tử, Kim Mã, Côn Sơn. . . trên vùng cánh cung Đông Triều này có tự bao giờ và dấu ấn lịch sử trong lòng của nó. Khi tôi về đây học cấp Trung học tại Trường nội trú HSMN Đông Triều thì vết tích của một vùng Thánh địa xưa cuả vua chúa thời Trần vẫn còn in dấu. Những bức tường thành đấp đất dầy kèm hàng tre còn hiển hiện tuy bờ đất còn vài tấc chân. Những đường tre, trúc vẫn cứ miệt mài sinh sôi, nảy nở như muốn muôn đời bảo bọc chân tường, bảo bọc những di tích lịch sử còn lại. Khu Côn Sơn cách Yên Sinh không xa. Đây là nơi Nguyễn Trãi –một thi nhân, một anh hùng dân tộc về đây ở ẩn. Và cũng chính ở nơi này ông gánh chịu vụ án Lệ Chi Viên. Côn Sơn lâu nay đã là khu di tích lịch sử. 

   Trường HSMN chúng tôi tọa lạc trên khu đồi Yên Sinh. Mõm đồi được sang bằng tạo dựng thành một sân trường rộng, được trồng những hàng thông làm cây che bóng mát để sinh hoạt. Xung quanh sân trường là những dãy nhà giành cho Ban giám hiệu, các phòng sinh hoạt Đoàn, Đội và chủ yếu là các dãy phòng học. Khu nhà ở của các nam nữ học sinh nằm hai bên triền đồi. Khu nhà của Thầy, Cô được xếp phía sau cho tiện sinh hoạt gia đình. Và sau nữa là con suối nhỏ lượn lờ chảy quanh đẹp đẽ, nên thơ. Xa xa dãy núi Đông Triều sừng sững bao bọc chở che cho Yên Sinh. Trước mặt trường là con đường đất đỏ chạy thẳng ra chợ Huyện Đông Triều. Con đường này và kể cả khu trường do các anh chị lớn tuổi, học những năm trước chúng tôi mở ra. 

   Những năm tôi học trường nội trú HSMN và kể cả sau này tôi quay lại trường dạy các em thế hệ vượt Trường Sơn chúng tôi đều rất bận. Nghĩa là nhà trường không để cho chúng tôi có thời gian rỗi, để chúng tôi không phải nhớ nhà, phân tâm việc học. 

   Tết Mậu thân 1968-thời điểm quyết liệt quân dân ta tấn công Mỹ, Ngụy giải phóng Miền Nam đi qua trong máu, lửa, hy sinh. Nhưng không một ai trong chúng tôi nao lòng. Chúng tôi vẫn kiên tâm chờ mong ngày thống nhất. Mẹ-Quê hương là tất cả cuộc đời, tất cả tình yêu trong mỗi chúng tôi. Ai đã từng xa nhà như chúng tôi mới có thể nhận ra điều đó. 

   Rồi những năm giặc Mỹ leo thang bắn phá ác liệt Miền Bắc. Chúng nhầm tưởng sẽ tiêu diệt được ý chí đấu tranh giải phóng Đất Nước của dân tộc ta. Nào ngờ, như lửa đổ thêm dầu, những trái tim yêu nước trên cả hai miền Nam Bắc càng sục sôi ý chí căm thù và chiến đấu giải phóng non sông, Thống nhất nước nhà. 

   Mùa xuân 1975 đã là mùa xuân lịch sử của dân tộc ta. Mỗi người dân Việt Nam có quyền khắc sâu vào trái tim mình niềm hãnh diện vô biên của người chiến thắng. Đầu tiên ta lần lượt giải phóng các tỉnh miền Trung. Khí thế xông lên, xốc tới của quân dân ta thật tuyệt vời. Đó cũng là những ngày luôn náo loạn ở trường tôi. Bởi nơi nào ở miền trung ấy cũng có học sinh của tôi. Với chúng tôi, nơi nào cũng là Quê hương, Tổ quốc . 

   Tôi còn nhớ ngày 26/3 là ngày giải phóng Thừa Thiên-Huế. Ngày 29/3 là ngày giải phóng Đà Nẵng. Và bỗng dưng chiến sự chựng lại rất lâu. Chúng tôi vô cùng nôn nóng và bối rối. Có lẽ nào? Có lẽ nào ta chỉ nhích được vĩ tuyến vào trong? KHông thể và không thế được. Và cái điều không thể ấy lịch sử không để xảy ra. 

   Đêm 29 rạng ngày 30 tháng 4 năm ấy Năm 1975 chúng ta tấn công vào Sài Gòn kết thúc cuộc chiến 21 năm trời Bắc Nam chia cắt đôi miền. 11h30 ta chiếm lĩnh toàn bộ những nơi xung yếu, tiến thẳng vào Dinh Độc lặp cắm lá cờ đỏ sao vàng thân yêu lên đỉnh Dinh khẳng định chủ quyền Đất Nước. Mãi đến 16h30 trường tôi mới nhận được tin qua Đài tiếng nói Việt Nam. 

“Giải phóng Sài Gòn rồi!”

“Giải phóng Miền Nam rồi!”

   Vang dậy khắp trường là tiếng hô, tiếng hét, tiếng khóc, tiếng cười. Trên gương mặt cả cô lẵn trò ràng rụa nước mắt sướng vui. Bắt đầu từ giờ phút ấy chúng tôi không có bữ cơm chiều và lập tức bắt đầu “Đêm không ngủ”. Các em học sinh đổ hết cơm canh ra bàn để lấy nồi tô nhôm đập cho vang dậy mừng chiến thăng. Rồi hát, rồi hò. Kể cả các cô chú cấp dưỡng, tiếp liệu chưa từng hò hát cũng bá vai nhau hát lạc cả tiếng. Đêm hôm đó và nhiều đêm sau nữa, chúng tôi làm náo loạn cả Yên Sinh. Không thể ngồi yên để dạy để học. Chỉ có một sự phấn khích và háo hức mong được sớm trở về May mà đã cuối tháng tư. Năm học cũng vừa kết thúc. 

   Sau đó không lâu chúng tôi được phân công lần lượt đưa các em về quê. Háo hức là vậy nhưng những phút giây rời xa Đông Triều, rời xa Miền Bắc sâu nặng nghĩa tình trong lòng chúng tôi đều lung linh nỗi nhớ. Thế mới biết thế nào là:

   Khi ta ở chỉ là nơi đất ở, 

   Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn”



Thứ Tư, 15 tháng 4, 2015

HÃY NGHIÊNG MÌNH TRƯỚC MỖI PHÚT GIÂY TA SỐNG (TT)

Ký – ĐÀM THỊ NGỌC THƠ

3. HÃY NGHIÊNG MÌNH TRƯỚC MỖI PHÚT GIÂY HÔM NAY TA SỐNG

Tôi đã từng thắp những nén nhang nơi nhà thờ các liệt sĩ nơi Bến Dược - Củ Chi. Tôi không biết phải để bao nhiêu thời gian để đọc hết các tên tuổi các liệt sĩ nơi ấy. Tôi chỉ biết trái tim tôi uất nghẹn, nước mắt trào dâng khi lướt nhìn dãy,  dãy các tên anh!
       Tuy chưa đến nhưng tôi đã từng được ngắm nhìn hàng hàng, lớp lớp những ngôi mồ liệt sĩ trong nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn-những ngôi mồ có tên và không tên tuổi đang xếp hàng ngay ngắn.
        Đó là chưa kể không biết bao nhiêu những nghĩa trang liệt sĩ ở các Huyện, Thành phố, các Tỉnh trên Đất nước Việt Nam hình chữ S này.
        Đất Mẹ Việt Nam ôm chặt vào lòng những đứa con hãy còn rất trẻ. Họ đi hỏi tội chiến tranh và để kết thúc chiến tranh. Họ đi đòi nợ máu-dòng máu Việt Nam anh hùng vẫn chưa ngừng chảy. Cả nước hành quân. Cả nước lên đường giành lại thống nhất giang sơn, giành lại bình yên cho Tổ quốc.
        Thanh niên lên đường nhập ngũ. Họ tình nguyện cầm súng chống trả kẻ thù đang bắn vào đồng bào của họ. Học sinh gác bút nghiên háo hức hướng về tiền tuyến. Họ sẵn sàng cầm cuốc, cầm xẻng lấp hố bom mở đường cho những đoàn xe, đoàn người ra trận. Những văn nghệ sĩ, nhà báo, giáo viên .  .  . Tất cả cho miền Nam, tất cả trên trận tuyến chống quân thù. Kể sao hết những người mẹ trên đất nước Việt Nam này đã hy sinh không chỉ một mà rất nhiều những người con cho cuộc chiến. Họ đã làm nên lịch sử. Họ đã thắm tô thêm màu cờ Tổ Quốc. Họ đã để lại những phút giây yên bình mà ta sống hôm nay. Dòng máu anh hùng đó vẫn luôn sục sôi trong lòng lớp trẻ hôm nay. Đúng như vị lãnh tụ kính yêu-Bác Hồ Chí Minh từng nói:’’Nó sẵn sàng nhấn chìm lũ cướp nước và bán nước’’
          Hãy ngắm nhìn kia khi những chiếc tàu của những kẻ lạ dã man xịt vòi nước vào những chiếc tàu làm ăn lương thiện của dân ta ngoài biển thì lớp trẻ Việt Nam phản ứng ra sao. Và những người chiến sĩ bảo vệ biển Việt Nam trả lời thế nào. Như những hòn than vùi sâu trong tro, lòng yêu nước khi cần khơi dậy nó bùng lên thành lửa đỏ. Dân tộc Việt Nam là thế đó. Bè lũ xâm lược hãy coi chừng. Ở Đất nước này ai cũng biết xả thân vì nghĩa lớn, ai cũng biết hy sinh.
          Thật thiêng liêng là những người đã ngã xuống cho chúng ta hôm nay. Ở đâu trên mảnh đất này đâu đâu cũng đều thắm máu hy sinh của những người con dân tộc. Nên bạn ơi! Hãy khẽ thôi! Hãy biết nghiêng mình trong mỗi phút giây ta sống. Để những người ra đi được yên lòng khi họ cảm nhận được rằng họ đã xứng đáng với sự hy sinh.

         

HÃY NGHIÊNG MÌNH TRƯỚC MỖI PHÚT GIÂY TA SỐNG (TT)

Ký – ĐÀM THỊ NGỌC THƠ

2. Khát vọng

Mỗi khi Đất Nước có chiến tranh thì lớp lớp những người con của Đất nước ra trận. Hình ảnh Trần Quốc Toản bóp nát trái cam, hình ảnh của những Kim Đồng, những Lê văn Tám là những hình ảnh sáng ngời của lòng nồng nàn yêu nước ấy.  
        Sau chiến thắng Điện Biên lịch sử, có rất nhiều con em cán bộ Miền Nam tập kết ra Bắc theo chủ trương của Đảng và Bác Hồ là đào tạo cán bộ có trình độ cho Miền Nam.
         Nhưng ngày giải phóng Miền Nam cứ dài ra, không phải hai năm mà ba, bốn, năm và dài ra mãi …  Những luật 10/59 của kẻ thù kéo lê máy chém giết hại cán bộ Cách mạng của ta. Rồi vụ giết hàng ngàn cán bộ Cách mạng trong trại giam Phú lợi. Những vụ thảm sát tàn độc ở Vĩnh Trinh,  Ngân Sơn,  Hướng Điền, Sơn Mỹ…  làm cháy lòng chúng tôi. Những đêm cùng nhau thức trắng hướng về Nam. Những lần cùng nhau ghi tên tình nguyện về Nam chiến đấu cứ liên tục. Máu chảy ở quê nhà thúc dục lòng những đứa con xa. Chúng tôi tìm đủ mọi cơ hội, len lỏi vào đủ mọi danh sách có thể để chỉ được lọt về Nam làm bất cứ việc gì. Cho mãi đến khi chúng tôi tốt nghiệp Đại học. Nhiều bạn tôi đã được lái máy bay dũng cảm nhắm thẳng vào kẻ thù nã đạn.  Như Đồng Văn Đe, như Sâm Kỳ, như Nguyễn Văn Bảy(B). Nguyễn Văn Bảy(B) đang nằm ở nghĩa trang liệt sĩ Tỉnh Cà Mau. Lê Anh Xuân, Chu Cẩm Phong cầm bút viết văn, làm thơ, làm nhạc nơi chiến trường lửa đỏ và làm nên “Dáng đứng Việt Nam”. Có cả những học sinh của tôi đã vượt Trường Sơn ra Bắc học rồi trở về Nam chiến đấu hy sinh như Phương Thảo …  Đội ngũ HSMN trở về Nam sau Đại học theo chủ trương đào tạo cho Miền Nam không sao kể hết và không có lĩnh vực nào là không có. Từ giáo dục,  y tế, công nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng… Nhiều bạn tôi trên đường về hoặc đi công tác cũng đã bị địch bắt giam cầm tra tấn đày ra Côn Đảo. Thế mới biết Đất Nước này không của riêng ai, nỗi đau này không của riêng ai và trách nhiệm giải phóng Miền Nam là trách nhiệm của toàn dân tộc.  
       Ở Cà Mau chúng tôi có các bạn Hữu Liêm, Hữu Thành, Quách Tâm, Bê, Lãm ra đi mang theo lòng mình những cánh rừng ngập mặn nơi chót mũi Cà Mau. Tốt nghiệp Đại học các bạn về lại Miền nam trước giải phóng và đã làm nên chuyện cho quê hương mình. Đó là việc quy hoạch lại những cánh rừng ngập mặn, mở những trường hướng nghiệp nông lâm. Là việc bạn Liễu thuần dưỡng loài trăn, tạo sân chim giữa lòng thành phố, làm nên nhà sàn Bác Hồ nơi mảnh đất cuối trời. Ta có bác sĩ Long, bác sĩ Danh Mai, bác sĩ Lễ là HSMN. Ngành công nghiệp có Dương văn Ẩn, Nguyễn Năm, nghành giáo dục có Trung Việt, cô Đào, Cô Ngọc Nhãn …  Tôi cũng đã từng theo các bạn, từng len lõi vào các danh sách đi B. Tôi cũng đã từng ghi tên vào lớp  đào tạo phóng viên ngắn hạn sáu tháng cho Miền Nam. Tôi cũng đã từng bỏ Đại học tổng hợp xin qua Sư phạm để được nhanh chóng về Nam. Nhưng số tôi không may. Vào đội ngũ nào tôi cũng bị gạt lại. Sau 30/4 chú Dương Tấn Phát Cục quản lý HSMN vội vả cử tôi đưa các em HSMN là Nam bộ về. Chú nói:  Con cứ về rồi ở luôn trong đó. Giấy tờ thuyên chuyển chú sẽ gởi về cho con. Trời đất! Vậy là bấy lâu nay tôi bị giam lỏng mà không hay. Chú là bạn chiến đấu của ba tôi thời chống Pháp: Cùng là huyện ủy viên Huyện Hồng Dân những năm 47-54.

     Giờ này chắc chú và Ba đang hàn huyên dưới đó mừng ngày Thống nhất nước nhà. Riêng tôi vẫn luôn chạnh lòng vì khát vọng không thành- cái khát vọng muốn được góp chút lửa vào đám cháy lớn - Giải phóng Miền Nam, thống nhất nước nhà. 

HÃY NGHIÊNG MÌNH TRƯỚC MỖI PHÚT GIÂY TA SỐNG

Ký – ĐÀM THỊ NGỌC THƠ

1. Chung vai gánh vác non sông


    Tôi vẫn hiểu: Vĩ tuyến 17- ranh giới tạm thời chia hai miền Đất nước chỉ là để khoanh vùng tập kết cho lực lượng hai bên. Còn cái nghĩa Đất nước luôn trọn vẹn và thiêng liêng trong tất cả mọi tấm lòng của người dân Nam Việt. Bởi lẽ đó mà ngay sau khi hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, ngay sau khi người Miền Nam đầu tiên tập kết đặt chân ra đất Bắc, nhân dân miền Bắc đã vội vã đùm bọc cưu mang.  Họ coi đó là sứ mệnh lịch sử thiêng liêng, là tình cảm yêu thương, trách nhiệm.
     Tôi còn nhớ ngày tàu tôi cập bến Sầm Sơn, nhân dân Thanh Hóa đứng đông nghịt trên bến tàu hân hoan chào đón. Rồi chúng tôi được nhanh chóng đưa về các dãy lán trại đã trải sẵn ổ rơm với đầy đủ áo,  mền chống cái rét chưa quen nơi đất Bắc. Trong khi miền Bắc vừa thoát khỏi chiến tranh, nhân dân miền Bắc còn đói khát trăm bề. Tuần lễ nghĩ dưỡng ở đây, ngày ba bữa chúng tôi được ăn uống no đủ để phục hồi sức khỏe sau chuyến vượt biển. Lúc ấy chúng tôi chưa biết được những cố gắng vượt bậc của Đảng, Bác Hồ và nhân dân miền Bắc cho đồng bào miền Nam tập kết cũng như cho cuộc đấu tranh chính trị vì miền Nam, vì cả nước. Mãi đến khi chúng tôi được chia về các xã gần đó của huyện Nông  Cống chờ ngày chuyển giao về cho các trường nội trú chúng tôi mới được nhìn rõ những chịu đựng,  những xẻ chia đến tận cùng của miền Bắc cho nửa khúc ruột yêu thương.
     Hãy bắt đầu từ những bữa cơm của chúng tôi - những bữa cơm nuốt nghẹn ngào qua nước mắt. Không phải vì cơm không đủ no, thiếu cái để nuốt trôi cơm vào bụng,  mà vì chúng tôi ăn cơm trong một cái lán che tạm nhưng được vây kín bằng một hàng rào dây thép gai. Bên ngoài là những em bé độ tuổi lên 6 lên 8 trần truồng giữa cái rét cắt thịt da của tháng 12. Trên tay một vài em cầm những cọng dây khoai lang đã héo. Đôi mắt các em thèm thuồng nhìn về phía chúng tôi. Các em không dám xin mà chúng tôi cũng không được phép cho dù chỉ một vài muỗng cho đỡ thèm. Thanh Hóa những ngày đó chưa kịp làm lại điều gì sau chiến tranh lại vội vã trực tiếp gánh vác sứ mệnh lịch sử nặng nề:đón tiếp mấy chục ngàn cán bộ, bộ đội, HSMN tập kết ra Bắc!
     Đâu phải cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xăm lược và bè lũ tay sai bán nước những ngày lịch sử đó là của đồng bào miền Nam? Sau những năm miền Bắc âm thầm chi viện sức của cho miền Nam đấu tranh theo hiệp định, bọn giặc bội ước,  xé nát hiệp định Giơ-ne-vơ, cả nước ta rầm rập lên đường ”Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu Nước”. Đếm sao hết những người mẹ trên đất Bắc dõi vào Nam ngóng theo bước chân con. Đếm sao hết những người vợ trẻ trên đất Bắc ngóng trông chồng từng đêm không ngủ. Rồi vì nửa nước yêu thương, vì miền Nam ruột thịt họ tiếp bước lên đường vào với chiến trường xa không ngại gian nan vất vả, sá chi cái chết rập rình. Đếm sao hết những nấm mồ liệt sĩ đã hy sinh trên chiến trường miền Nam, bao nhiêu ngôi mồ có tên và vô danh nằm hiu hắt đó đây mà đồng đội, thân nhân còn chưa nhận diện. Sẽ thật tội lỗi khi ta chỉ nhớ đến niềm vui của những người miền Nam tập kết, giải phóng miền Nam được sum họp gia đình mà quên mất niềm vui đến tột cùng của nửa nước yêu thương-nơi đất Bắc đang chờ đón tin con.  
      Thoáng một cái đã tròn 40 năm kể từ ngày giải phóng. Mẹ nuôi tôi, người Hà Nội mới vừa tìm được mộ con trai hy sinh ở mặt trận Khe Sanh. Tìm được hài cốt con trai về mẹ không cho hạ huyệt. Mẹ bảo chờ vài hôm nữa đến giỗ anh ấy rồi hẳn hạ huyệt. Năm rồi cúng cơm em nhà tề tựu không thiếu một ai. Cúng cơm em hôm trước, hôm sau mẹ xuôi tay nhắm mắt hưởng thọ 94 tuổi. Chúng tôi đành dời ngày truy điệu hạ huyệt cho em vào đầu năm sau cho thuận lẽ trời,  hạp lòng mẹ.
      Chiến tranh là thế: Nó đã lùi xa nhưng vẫn còn cất giữ trong nó biết bao điều bí ẩn!
    
                                                                   Cà Mau, ngày 08 tháng 04 năm 2015

                                                                                Đàm Thị Ngọc Thơ

Thứ Hai, 16 tháng 2, 2015

Thơ của con gái anh Thanh:NHỮNG CON ĐƯỜNG BA XÂY, BÉ ĐÃ ĐI HẾT CHƯA?



Còn mươi hôm là ngày con sinh ra
Mà ba đi chưa kịp lời tiễn biệt
Ngược thời gian giấc mơ con đã nguyện
Về khoảnh khắc ba cho con một hình hài
Cuộc đời ba là những chuyến công tác dài
Con chào đời mà ba vẫn chưa về kịp
Nhưng giây phút đó con biết ba đã nghẹn ngào sung sướng
Hạnh phúc lắm ngày con gái rượu ra đời.
Tuổi thơ con! Ôi thần tiên tuyệt vời
Khi có ba, có má và anh Cảnh
Bốn người mình ăn cơm hay chuyện trò lanh lảnh
Cảnh chọc con, dí con chạy, khóc nhè!
Con vẫn nhớ thói quen ba mỗi khi đi làm về
Là hôn lên má con cho bõ ghét
Hôn đến khi hai má con đỏ chét
Mới chịu bỏ ra vì má la “Anh này!”
Ba hay nựng hỏi con “Bé thương ba không hè?”
Mua cho anh và con xe ngựa đồ chơi, búp bê, làm bếp
Đến nỗi năm 91, tình hình Liên Xô rối rắm
Ba vứt hết vali chỉ mang đồ chơi về.
Ba – con gái ít tâm sự tỉ tê
Mà khuyên dạy con những điều hay lẽ phải
Ba thường nói không cần con học giỏi
Điều trước tiên là phải biết làm người.
Có một điều con luôn tự hào và mỉm cười
Là ba yêu và lo cho má con nhiều vô hạn
Mặc dù má hay kể ba không phải người lãng mạn
Hồi yêu nhau, họ tặng hoa, ba tặng mấy ký thịt bò.
Ba lúc nào trước hết cũng lo cho má và hai con
Luôn dặn dò anh và con cẩn thận giao thông, tệ nạn
“Có chuyện gì ba thần kinh thép, còn chịu được
Chớ má tụi bây suy sụp, đổ bệnh liền”
Mà con phải công nhận ba hết sức trung kiên
Chiến đấu kiên cường hệt như ông bà nội
Con người lý tưởng, lạc quan, luôn bước tới
Dù cuộc đời ba toàn gian khổ, không an nhàn.
Nhưng con biết ba thích rứa phải không ba
Ba đâu muốn đời ngồi không mà hưởng thụ
Tính chiến đấu, xông pha trong máu đã tụ
Dù đời phụ ba, nhưng ba được hưởng lòng dân.
Từ nhỏ đến giờ con chưa một lần lên gân
To tiếng tôi con ông này ông nọ
Mặc dù con chưa từng nói với ba những điều khó
Chuyện áp lực là con ba, từ lớp một con ý thức được rồi.
Con xin lỗi ba, lúc nhỏ có nhiều khi suy nghĩ tồi
Con đã ước giá ba bình thường như người khác
Nhưng giờ đây con biết rằng đó là phước
Làm con gái ba là phúc đức đời con.
Ba biết không, tính con giống ba, ít khi khen, mà toàn chê, phản biện
Ba khoe với con những ý tưởng, công trình, bệnh viện
Con không khen nhiều mà toàn ý kiến
Dù ý con chả được dụng bao giờ
Ngoài cuộc đời, tên tuổi ba làm nên bao vần thơ
Vì sự nghiệp, nhiều người tôn ba là vĩ đại
Nhưng với con, đứa con gái nhỏ dại
Ba mãi là ba, một cách rất giản dị và đơn sơ
Con yêu ba không vì tiếng tăm ba
Không vì ba được người đời tưởng nhớ
Con yêu ba vì kiếp này duyên nợ
Cho con được làm con gái rượu của ba.
Ba hãy ra đi thanh thản nhé ba
Như lời ba nói với con vài tháng trước
Ba nói rằng ba cũng không nuối tiếc
Đà Nẵng chừ đẹp, hai con cũng trưởng thành.
Lúc con khóc vì hy vọng mong manh
Ba cười nhẹ nhàng, xoa đầu động viên khẽ
“Mạnh mẽ lên”, chỉ ba chữ ngắn gọn
Nhưng con nguyện mang theo trọn cuộc đời./.
Con yêu ba vô cùng. Kiếp sau con vẫn làm con gái của ba ba nhé!

Đà Nẵng rạng sáng 16-2


Nguyễn Thị Hoài An

Chủ Nhật, 15 tháng 2, 2015

VĨNH BIỆT ANH NGUYỄN BÁ THANH


Ảnh của Nguyễn Quang Vinh.

1.Sự ra đi của anh Nguyễn Bá Thanh cũng như trước đó, sự ra đi của đại tướng Võ Nguyên Giáp kính mến đã gửi một thông điệp rất giản dị nhưng vô cùng cao cả, thông điệp đó lại chính được nhân dân đúc kết từ trong quá khứ:
Thương dân, dân lập đền thờ
Hại dân, dân đái ngập mồ thấu xương.


2.
Làm một lãnh đạo được nhân dân yêu thương như anh Nguyễn Bá Thanh có dễ không? Thực sự rất dễ. Vì để cùng nhân dân xây dựng một thành phố đáng sống như bây giờ anh Thanh đã sống xứng đáng với vị trí của mình, cứ lo cho dân, lo cụ thể từ miếng cơm manh áo, từ việc làm cho các cháu thanh niên ra tù, đến bác xích lô, bà bán trứng lộn, chia sẻ tâm tư và nhắc nhở với cả những gã đàn ông vũ phu, biết chối bỏ những dự án làm hại cho quê hương về môi trường ( mà có thế nếu ủng hộ sẽ có lợi lộc cho gia đình, bản thân), tận hiến từ lời nói đến việc làm, lấy tấm lòng để thu phục những tấm lòng....
3.
Không ai ép dân "đau khổ" khi mình chết. Không ai ép được dân đi thăm viếng. Không ai ép được dân khóc vì thương tiếc mình. Chỉ cần thấy hàng ngàn, hàng ngàn người dân Đà Nẵng trong suốt chiều và đêm 12/2, bỏ hết công hết việc ngày giáp tết, im lặng xếp hàng, im lặng bước tới nhà riêng anh Nguyễn Bá Thanh, im lặng khóc ....là đủ biết, có một người tên là Nguyễn Bá Thanh đã có vị trí lớn lao như thế nào trong lòng các tầng lớp nhân dân.
4.
Sẽ có ai đó vẫn nhắc tới vụ Cồn Dầu, nhắc tới vài ba vụ việc không làm người đời ưng thuận, mỗi người có những cách nhìn khác nhau, nhưng sự kính trọng, tình thương mến với anh Nguyễn Bá Thanh lớn lao tới độ ngay cả những kẻ hậm hực vì anh cũng phải im lặng chấp nhận một thực tế, anh Nguyễn Bá Thanh là một trong những vị lãnh đạo hiếm hoi được lòng nhân dân, cán bộ đến như thế.
5.
Nhân dân bao dung, nhân dân tỉnh táo, nhân dân sòng phẳng, nhân dân thủy chung, không và tất nhiên là không bao giờ nhầm lẫn khi đánh giá cuộc đời người lãnh đạo của họ. Vì thế, mỗi vị lãnh đạo cần phải học cách sống, ứng xử, thái độ phục vụ, hành động vì nhân dân như anh Nguyễn Bá Thanh, cứ sống như thế, có sai có đúng, nhưng trước hết và trên hết là tận tâm, tận hiến, tận lực vì cuộc đời này, sống như anh Nguyễn Bá Thanh cho tới lúc chết anh vẫn ngẩng cao đầu, còn hơn chán vạn kẻ hí hửng được "hạ cánh an toàn" nhưng rồi lại phải "lầm lùi bước đi" ...-lời chủ tịch nước Trương Tấn Sang.
6.
Có hai câu nói cuối đời của anh Thanh: Một là anh đề nghị nhà nước để gia đình, con cái lo toàn bộ chi phí chữa bệnh. Hai là nhắc vợ đưa quà tết cho người nghèo. Hai câu nói ấy của anh đã làm cho viên ngọc Nguyễn Bá Thanh sáng trong cho tới phút giây cuối cùng.
7.
Sống với nhau trong cuộc đời này, hãy nhìn vào điều tốt nhất, đừng kiệm lời khen ngợi, hãy khích lệ nhau, quỹ thời gian từng con người có nhiều nhặn gì đâu mà hậm hực, mà chà xát, mà chẻ sợi tóc làm tư, mà vu khống, nói xấu, chì chiết, trù úm, bôi nhọ...Hãy nhìn vào cái tốt của nhau để yêu thương, để nâng niu từng giọt thời gian sống. Anh Thanh mất đi, những điều tốt đẹp anh ấy để lại không chỉ là cho giới lãnh đạo học tập, mà mỗi chúng ta cũng nhận từ anh một thông điệp sống- sống tử tế thì được đối xử tử tế. Rứa thôi phải không anh Thanh?


Nhà văn Nguyễn Quang Vinh

Ảnh của Nguyễn Quang Vinh.

Thứ Ba, 6 tháng 1, 2015

HUYNH BÁ THANH, NHƯ TÔI BIẾT

Ảnh trên NET: Ngầu chưa?


1. Tôi về Đông Triều khi huynh đang là lớp 10 chờ đi học Đại học. Tôi nhớ không nhầm thì trong trận bóng đá của đội Trường HSMN số 1 đá với đội Thanh niên Quảng ninh (hổng nhớ ,hay đội thanh niên thị trấn Đông triều gì đó ?), Bá Thanh bắt gôn. Nhìn tướng cao to của huynh đứng án ngữ giữa khung thành trông rất ngầu. Nhiều tiếng trầm trồ, hắn bắt dữ  lắm đó nghe. Quả thật, khi đối thủ tiếp cân cầu môn là huynh bay ra ôm gọn bóng, hai chân còn phi thẳng ra phía trước đầy uy hiếp. Cầu thủ đối phương mới đầu còn hăng hái xâm nhập khu vực 16m50, sau phát khiếp chỉ câu bóng từ xa. He he... Sau này xem  thủ môn Oliver Kan của Đức hung hãn, tôi lại nhớ đến hình ảnh dữ dằn của huynh. Bá Thanh làm việc gì cũng đam mê, máu hơn thua tới cùng, dù là chơi cờ tướng giải trí .

Thứ Tư, 31 tháng 12, 2014

Gor- ba- chột tự hào xuyên Việt dự họp mặt HSMN - Phần 3: Ấm áp tình bạn HSMN

1- NỖI NIỀM VỚI CÁC BẠN HSMN QUẾ LÂM QUẢNG TRỊ
Tôi luôn dành cho các bạn HSMN Quế Lâm ở Quảng Trị một tình cảm đặc biệt. Những khi gặp các bạn ở Đông Hà, dù đang bận công việc gì các thành viên đều tề tựu đủ để đón tiếp. Rồi các bạn tâm sự những gian truân nhọc nhằn của cuộc đời (hầu hết các bạn hiện đều là người dân bình dị, có lẽ ai đó đã quên cha mẹ các bạn). Tôi cứ ngỡ ngàng ngồi nghe các bạn thổ lộ mà ngạc nhiên trước sự chịu đựng nhẫn nại để vươn lên của các bạn. An, Thanh, Phụng thì vật vả trong công việc. Hiệp thì vật lộn với Cửa hàng của gia đình, Cu Hiền thì còn ngụp lặn sâu hơn. Hồng Hạnh thì lụm cụm với tiệm rửa xe. Nhớ năm 2007, khi tôi ghé thăm và hỏi: Rửa xe lượm tiền lẻ đỡ hôn? Hạnh tỉnh queo: Đỡ gì, dân ở đây bọn hắn tự rửa ở nhà không hà ! Trời, zậy sao làm ăn !!!
Do đó cứ hễ có dịp họp mặt HSMN ở ngoài này là tôi ghé rủ các bạn Quảng Trị tham gia. Năm 2007 họp tại Đà Nẵng, tôi cũng đạp ga ra lố ngoài này. Năm nay cũng vậy
Hồng Hạnh đãi tôi bữa cơm mắm cực ngon, hết cơm tôi còn đói, thế là Hạnh nấu luôn tô mỳ 2 gói cho Ba chột ăn. No rồi lăn ngủ lấy sức khỏe. Trong khi đó đức lang quân của Hạnh đang cặm cụi rửa xe. Ôi, quá là tình cảm sâu sắc.


Thứ Hai, 29 tháng 12, 2014

Chuyện nhặt ở 60 năm HSMN




Chuyện thứ nhất:

Đang tán dóc với một trong những "ông Tây" Mơ-nông thì có một đại ca HSMN hỏi: Các em ở Quảng Nam có biết có anh nào là anh Tốt, cỡ tuổi anh không?  Hỏi lại: Anh hỏi về HSMN à?  Đáp: Đúng rồi HSMN, anh ấy học lớp anh. Anh ơi, chắc anh nhầm, HSMN làm chi có tên nào tên là Tốt, chắc lỡ trước đây tên Tốt thì giờ chắc đổi tên hết rồi. Đại ca: !!!. Tây Mơ-nông: anh đừng nghe nọ, thằng này anh hỏi nghiêm, mày lại...Đại ca: Ha, ha!!!

Câu chuyện thứ hai: 

  Gặp một chú trước công tác ở Cục I (Cục Quản lý HSMN - Bộ Giáo dục), chú hỏi: Cháu qua Quế Lâm năm nào?  Dạ cháu sang QL năm 1970. Như thế là năm đó cháu học cấp I NVB. Mày mà sang năm 1969 thì chú cho mày học trường cấp I Dân tộc TƯ rồi. Là sao chú? Chuyện là hồi năm 1969 chú được lãnh đạo giao nhiệm vụ dẫn đoàn các cháu thiếu nhi Miền Nam ở T64 và ở Đông Triều qua Quế Lâm, khi tiếp xúc với các cháu, chú là người Miền Bắc nên nghe các cháu nói mười tiếng thì chỉ hiểu được hai tiếng Kinh còn lại tiếng dân tộc nên chú không hiểu gì cả. Nên khi qua đến Quế Lâm mấy cô chú nhận bàn giao chú nói là các cháu là dân tộc Tây  nguyên nên đề nghị đưa qua trường cấp I Dân tộc để dạy tiếng Kinh theo cấp độ ưu tiên cho dân tộc ít người. Sau khi các cháu nhập trường chuẩn bị vào năm học mới thì mới phát hiện có sự nhầm lẫn. Do đoàn chú đưa đi các cháu  hầu hết là quê ở Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam-Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa... nên nói năng chú có hiểu gì đâu, nên tưởng tụi bay là dân tộc Tây Nguyên. Vụ đó chú bị kỷ luật do không hoàn thành nhiệm vụ, nhưng lại có kỷ niệm nhớ đời. Từ năm sau thì người khác thay chú dẫn tụi bay nên không còn nhầm lẫn nữa...
Quế qua năm 1969 tôi biết có HHP, HTT, TCT...Không tin hỏi HHP coi!

TRẠI NHI ĐỒNG MIỀN NAM GÒ ĐỐNG ĐA


       Mọi người theo xe về thăm trường cũ hết rồi . Chị em Ráo cũng về thăm trường cũ . Với trí nhớ khi mới 4 tuổi cùng đôi chân đi và cái miệng liên tục hỏi .
      Gọi taxi VIC :- cho hai cô đến Gò Đống Đa 
                             - Ở đó người ta đang xây dựng , không biết họ có cho vào không ?
                             - Cứ đưa hai cô đến đó .
     Đến nơi , ngổn ngang gạch đá . Hai chị em cứ tự nhiên bước vô . Thấy mọi người ngó ngó nhưng không ai nói gì .



                                          H1 : Dưới chân Gò Đống Đa


                                                H2 : Trên đỉnh Gò Đống Đa