Hiển thị các bài đăng có nhãn Thầy cô. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thầy cô. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 30 tháng 1, 2018

ĐÔI LỜI VỀ HỌC SINH MIỀN NAM (Bài phát biểu của thầy Nguyễn Việt Bắc trong buổi gặp mặt toàn thể HSMN ngày 27/1/18 tại TP HCM)



Kính thưa Quý Thầy Cô, Quý Đại biểu, cùng toàn thể anh chị em HSMN

Lời đầu tiên, xin được bày tỏ lời cảm ơn Ban Tổ chức cuộc họp mặt HSMN trên đất Bắc hôm nay đã cho phép tôi được lên phát biểu. Gần nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ khi các trường HSMN trên đất Bắc ngừng hoạt động, mỗi lần gặp mặt thày trò đều xúc động cùng nhớ lại mọi kỷ niệm tốt đẹp ngày ấy. 

Chúng tôi là những giáo viên miền Bắc, được Bộ Giáo dục chọn lựa và phân nhiệm về các trường Học sinh miền Nam ( HSMN ), nhiều người khi ấy còn rất trẻ, mới tốt nghiệp sư phạm. Điểm chung của chúng tôi là hiểu biết về trường HSMN còn rất ít, nhưng đều nghiêm túc thực hiện sự phân công của Bộ. Giờ đây, những năm tháng giảng dạy HSMN đã trở thành một trong những kỷ niệm tốt đẹp và đáng nhớ nhất của cuộc đời sư phạm. Xin được chia sẻ một vài ấn tượng sâu sắc:

1. Có thể nói, trong lịch sử giáo dục cách mạng Việt Nam, loại hình trường HSMN là loại hình độc đáo nhất, sáng tạo nhất. Cùng với quá trình phát triển cách mạng những năm từ 1954 đến 1975, dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong tình yêu thương của đồng bào, hàng loạt trường HSMN đã hoạt động trên khắp miền Bắc, nuôi dưỡng, giáo dục và tạo nền móng cơ bản cho sự trưởng thành của nhiều thế hệ HSMN. Độc đáo và sáng tạo vì đây là loại hình trường nội trú cho con em cán bộ, chiến sĩ đang trực tiếp tham gia chiến đấu ở miền Nam. Các thế hệ HSMN đủ lứa tuổi, xa quê hương, thiếu vắng tình cảm gia đình, nhưng cùng chung ước vọng và niềm tin học tập, rèn luyện để xây dựng quê hương sau ngày chiến thắng. Chúng ta đều nhớ tới lá thư của Bác Hồ lần đầu tiên viết gửi thày trò trường HSMN năm 1955. Người đã nhắn nhủ thày trò HSMN hăng hái học tập và công tác, sao cho đến ngày nước nhà thống nhất, là những người gương mẫu trở lại xây dựng quê hương. Đến nay, hầu hết anh chị em HSMN đã nghỉ hưu sau khi đảm nhiệm nhiều trọng trách tại các tỉnh thành miền Nam, đã góp công sức rất lớn cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước, thực tế đã chứng tỏ các thế hệ HSMN đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ cách mạng, hoàn toàn xứng đáng với kỳ vọng của Đảng, của cha anh đi trước. Như vậy, trường HSMN là loại hình trường độc đáo, sáng tạo và thành công nhất của giáo dục cách mạng Việt Nam.

2. Trong mỗi lần gặp mặt các thế hệ HSMN, dù ở bất cứ đâu, các thầy cô giáo đều nhận được nguyên vẹn tình cảm quý mến, trân trọng của các anh chị học sinh năm xưa. Chúng tôi cũng luôn nhận được những lời cảm ơn chân thành của các anh chị HSMN khi nhắc nhớ những năm tháng trưởng thành dưới mái trường HSMN trên đất Bắc. Trò biết ơn thầy cô là đạo lý dân tộc đáng quý. Nhưng cũng cần nói thêm: Chính từ những ngày tháng giảng dạy, công tác trong trường HSMN, từ những gắn bó, cảm thông, chia sẻ thầy trò, đã tạo nên nguồn động viên chúng tôi nâng cao chất lượng giảng dạy, giáo dục, động viên chúng tôi kiên trì rèn luyện, hoàn thiện bản thân, trưởng thành trong nghề nghiệp, trong tình cảm. Cùng sống, cùng chứng kiến những nỗ lực vượt khó vươn lên từ hoàn cảnh đặc biệt của HSMN, chứng kiến sự thành đạt sau này của các bạn HSMN, chúng tôi cũng xin được nói lời cảm ơn những học trò thương yêu đã góp công sức cho đất nước, cho dân tộc, vẫn trọn tình với Thầy Cô, với lớp cũ trường xưa.

3. Hầu hết nhà giáo chúng tôi sau khi rời trường HSMN đều tiếp tục công tác giảng dạy, quản lý trong ngành giáo dục. Trong giao tiếp công việc chuyên môn cũng như giao tiếp xã hội, khi nói tới HSMN, chúng tôi đều thấy rõ sự đánh giá cao của mọi người về các thế hệ HSMN, từ đó tiếp tục dành sự ưu ái, trân trọng cho chúng tôi, những nhà giáo đã từng góp sức trong các trường HSMN. Đây là điều hết sức đáng quý.
Mỗi dịp gặp gỡ HSMN dù ở bất cứ tỉnh thành nào các bạn đều tụ tập cực kỳ đông vui, nhiều Thầy Cô tuổi cao sức yếu cũng tha thiết cố gắng đến họp mặt. Chúng tôi chứng kiến ở đây cùng với tình thầy trò cao quý, có tình bằng hữu bạn học, tình anh em như ruột thịt, tất cả cùng chung nhau bốn từ giản dị Học Sinh Miền Nam. Như vậy HSMN chính là một GIA ĐÌNH LỚN, gắn kết, chia sẻ với nhau bằng cả tình thân gia đình!
Cùng trong một gia đình lớn nên những tâm sự của chúng tôi nêu trên hy vọng cũng sẽ là tâm sự chung của mỗi Thầy Cô, anh chị em HSMN hôm nay! 
Nhân dịp Tết Mậu Tuất sắp tới, kính chúc Quý Thầy Cô, Quý đại biểu cùng toàn thể anh chị em HSMN và gia đình một Năm Mới khỏe vui, bình an, may mắn và Hạnh Phúc. 

Nguyễn Việt Bắc 

Nguyên giáo viên Trường HSMN Đông Triều 

Thứ Tư, 15 tháng 2, 2017

Lộc Sách đầu năm

Câu chuyện 1:
Tết ni dành nhiều thời gian cho nhà, MF ít ra đường. Nhưng ông bà mình có nói: Mồng Một Tết Cha, Mồng Hai Tết Mẹ, Mồng Ba Tết Thầy.
Người Thầy MF có thể đi thăm dễ dàng nhất đó là thầy Trương Bé, thầy giáo dạy môn hội họa năm cấp 2 khi ở trường Nguyễn Văn Bé. Tại sao mình sẵn có thầy một bên lại không thăm? Nhưng cũng mãi mồng 7 hai mẹ con mới đến thầy. Đến nhà, thầy mừng rỡ mở rượu vang, chiên bánh Tét chiêu đãi mẹ con Quế. Vì vậy chỉ định thăm thầy cái rồi đi, mà ngồi lần khân chuyện trò từ chiều đến tối, những chủ đề không dứt với họa sỹ Trương Bé, nguyên thầy giáo dạy họa cho tụi Quế, nguyên hiệu trưởng trường ĐH Nghệ Thuât Huế, nguyên UV Thư ký Ban chấp hành Hội Mỹ thuật VN - UV Hội đồng Nghệ thuật TW Hội Mỹ thuật VN, hiện và mãi là họa sỹ trừu tượng tài danh Trương Bé.
Đang nói chuyện, thầy nói để thầy tặng cái này, thầy đi vào trong lấy ra quyển sách thầy mới xuất bản, dù là không lạ gì những bức họa cực kỳ ... "khó hiểu" của thầy, nhưng MF bồi hồi khi thầy cầm bút ký tặng tập "Thiên Địa Nhân".
Tới lúc có cặp vợ chồng trẻ học trò cũ sau này của thầy đến thăm, mẹ con mới rút lui. Nhưng vì cậu trò cũ này là một giáo viên dạy vẽ của một trường Tiểu học ở trong Quảng, hắn tròn mắt ngạc nhiên khi thầy giới thiệu MF là trò cũ của thầy, bây giờ là TS Sinh học. MF mới nán lại để kể với hắn về câu chuyện "bức tranh mùa thu vàng của Levitan" thời trường Nguyễn Văn Bé, cái cớ vì sao thầy họa sỹ của hắn lại có trò cũ làm nghề "sinh học", hắn ngạc nhiên nữa là cái cô này còn nói là thành công trong nhiều nghiên cứu nhờ hiệu năng của bài giảng "mùa thu vàng" thầy ám ảnh vào bộ nhớ thuở học lớp 5, cái cô này còn thao thao với thầy về "cõi vĩnh hằng", "con đường Vladimir"... Bảo với hắn rằng, không phải chỉ mình tôi "bị" như vậy đâu, em hãy tận dụng cơ hội gieo vào các lứa trò của em những ám ảnh quyền năng như thế...
Và còn kể cho hắn nghe một chi tiết về tính cách của một thầy giáo của HSMN như sau:
Cách nay khoảng mười tám, mười chín năm, hội HSMN tại Huế tổ chức gặp mặt bạn bè và thầy cô trước Tết, khi nhận điện thoại mời, có một anh HSMN, có vị trí kha khá trong tỉnh, nói: "anh không đến được, vì buổi đó anh có một cuộc gặp mặt quan trọng lắm!" OK, lý do rất chính đáng, vì anh đang là người của Nhà Nước, sau đó mới là bạn bè, bạn bè cũ chỉ là hội hè để thỏa nhớ nhau mà thôi. Lúc gặp mặt, thầy Trương Bé, Hiệu trường trường ĐH Nghệ thuật Huế, xuất hiện. Các trò vui sướng đón thầy, thầy nói một câu mà găm vào đầu MF từ ấy đến giờ: "Chiều nay lãnh đạo tỉnh mời các thủ trưởng đầu ngành trong tỉnh, nhưng với thầy, cuộc gặp mặt này quan trọng hơn!"
 Thầy nói mới biết, Tết này thầy rất bận, vì có bà cô ruột ngoài quê bị tai biến, bà không có con, bà em ruột nuôi bà hơn năm nay cũng đã ngoài 85, nên thầy đưa vào đây, Tết người làm không có, tự tay thầy hằng ngày tẳm rửa, vệ sinh, tã lót, nấu nướng cháo lao cho bà. Lòng MF chùng xuống, thấy xấu hổ, vì MF hơn ai hết hiểu hoàn cảnh này, nhưng MF là con gái chăm cha mình, mà đôi lúc thoáng nghĩ: mình cũng đang bước về xế chiều, lẽ ra tuổi này mình phải được gia đình ưu tiên!!! Còn thầy, cháu trai đã 75 tuổi chăm bà cô!

Các Quế có thể tham khảo một vài bài báo viết về thầy trong các link sau:
http://daidoanket.vn/i/thien-dia-nhan/128147
http://www.vietnamfineart.com.vn/Story/Tapchimythuat/2016/11/5381.html
http://dantri.com.vn/giai-tri/xem-bo-tranh-moi-cua-bac-thay-tranh-son-mai-truu-tuong-hue-1333956745.htm
http://soi.today/?p=68993
http://www.huefestival.com/?cat_id=485&id=3096
http://thanhnien.vn/van-hoa/sac-mau-truong-be-72046.html
http://truongtoc.com.vn/view/article/318/
     
Câu chuyện 2:
Mấy ngày trước khi thăm Thầy Trương Bé, MF và Quế con thăm gia đình nhà thơ Ngô Minh (Có vẻ như Quế HHP rất kết nhà thơ này). Dù thời gian rất khó, nhưng mẹ con MF không thể bỏ qua người anh này. Những gì gia đình anh chăm sóc gia đình MF thì không kể hết. Nhưng có một chi tiết làm MF luôn nghĩ về anh và gia đình anh. Năm 1999, MF đang đi thực địa tại Cần Thơ thì cái lụt lịch sử xảy ra. MF khóc hết nước mắt tại Cần Thơ vì thấy TV toàn đưa tin lũ trôi và chết chóc ở Huế, mọi người ở Cần Thơ không có gia đình ở Huế xem TV còn không cầm được nước mắt, huống chi MF để hai đứa con thơ ở nhà cho cha mẹ già trông coi. Không thể điện thoại, không thể bay về. Nội bất xuất, ngoại bất nhập. Ngày đầu còn liều điện thoại được cho anh GĐ sở Công An, anh hứa sẽ ghé qua coi tình hình nhà rồi báo cho, anh là người cuối cùng còn pin điện thoại, nhưng không thể có tin phản hồi, vì đến anh cũng .. hết sạch pin dự trữ. Hic. cho đến một tuần sau mới có thông tin và đường bay thông, bay về nhà, thấy cha còng lưng hơn, và mẹ đi chập chững hơn vì dọn bùn sau lụt ra khỏi nhà. Cha mẹ và các con kể về ông ngoại lội cầu ga ngập nước lên ga mua bánh mì cho cháu mà rùng mình, vì ông chỉ đi trong trí nhớ, chơ cầu không nhìn thấy... 
Và câu chuyện của anh Ngô Minh là: Trước lụt ít lâu anh gặp tai nạn, người ta phải mở xương sọ anh ra để ổn định cái bộ não tài năng của anh đang giập nát chảy máu, rồi ráp vô khâu lại khi lụt xảy ra. Đang vậy, nhưng thấy lụt, anh không chỉ ngồi ngẫm về thân phận cái não của mình, mà nghĩ đến gia đình bạn bè, vì nhà anh ở trên đồi cao, nên anh không ung dung nhìn lụt, mà lo lắng hối hai thằng con trai của anh kiếm thuyền bơi về "vớt" mấy nhỏ nhà MF lên nhà anh cho an toàn! Mặc dù mấy nhỏ nhà MF không đi, nhưng câu chuyện ân tình đầy nhân văn này MF mãi ghi nhớ.
Tết nay đến nhà, thấy chị ốm nằm một chỗ, anh mới mổ cả hai mắt, còn sưng tấy. Thấy khách đến, anh cười "sật sật" như vẫn thế, nói, anh tặng mẹ con cái này, rồi bê ra bộ sách còn nguyên khối anh mới in, nói là lần trước ốm nặng, nghĩ chuyện lâu dài, đã tập hợp và in bộ này, trong này bao gồm thơ của anh, văn của anh, ký của anh, phê bình của anh cho người ta và người ta viết về anh.
Đó là hai "lộc sách" mà MF hân hạnh đón nhận đầu năm. Một điều thú vị nữa, là sau Tết, mẹ con Quế du xuân về thăm một ngôi nhà vườn rất lãng mạn ở làng Tiên Nộn, nhà của Bác Sỹ Nguyễn Tích Ý. Đang đắm mình với bức vườn rực rỡ mai vàng của ông bên hạ lưu dòng sông Hương, Bác Tích Ý với cô em gái rất đẹp lão của Bác là Cô Điểm mời vào nhà uống nước. Ngước lên giá sách, chỗ trưng bày những tác phẩm trang trọng của gia đình, đập vào cặp mắt ngỡ ngàng của MF là: Bộ sách mượt mà đằm thắm của anh Ngô Minh và tập sách sang trọng của thầy Trương Bé. Quả là xứ sở của Thiên, Địa Nhân ...

Tập sách của thầy Trương Bé

Lời đề tặng

Tuyển tập của anh Ngô Minh

Nụ cười lấn lướt tai nạn và bệnh tật của nhà thơ  "Quà Tặng Xứ Mưa"

Mẹ con Q.MF với anh em Bác Sỹ Nguyễn Tích Ý

Thứ Ba, 12 tháng 7, 2016

NHỮNG KỶ NIỆM KHÔNG QUÊN VỀ BAC LỘC !


   Những Kỷ niệm về Người Thầy, người Bác, người cha của cá thế hệ HSMN trên đất Bắc - NGND LÊ PHÚ LỘC!
   Tôi ở Quế Lâm về Đông Triều, tháng 9 năm 1975 tôi ở Đoàn Quảng Đà 3 về Miền Nam. HSMN QNam có trường nội trú Tam Kỳ, còn HSMN QĐà thì tùy nghi di tản. Tôi học trường TH Thái Phiên và tôi có Học bỗng nhận ở Ty GD QNĐN. Một buổi chiều cận Tết AL 1976, tôi đến Ty GD để nhận học bỗng về ăn Tết, bước ra sân chuẩn bị lấy xe đạp về thì tôi nhìn thấy bác Lê Phú Lộc, trước là PGĐ Khu GD HSMN Quế Lâm, lúc đó là Trưởng ty GD QNĐN. Tôi chào bác và bác cũng nhận ra tôi là HSMN QL. Bác hỏi thăm tình hình của tôi và các bạn ở Quế Lâm ở QNĐN. Tôi thưa thật với bác là các bạn còn theo học rất ít vì hầu hết HSMN có điều kiện khó khăn nên đã bỏ học đi làm mưu sinh. Bác hỏi thế các bạn đi làm những ngành nghề gì? Tôi thưa: Đa số các bạn gia nhập lực lượng công an, một số bạn nữ theo nghề dạy học... Bác nói thôi thì tùy hoàn cảnh mỗi cháu, nhưng bác thấy theo nghành công an cũng tốt, Miền Nam mới giải phóng, việc giữ gìn an ninh trật tự xã hội cũng rất cần những con người tâm huyết, bác tin là các cháu cũng sẽ rất tiện bộ, có điều kiện thì lại học lên cao. (Việc này là bác nói đúng: Sau này nhiều bạn tham gia lực lượng công an thời đó đã phấn đấu, học tập và trở thành các sĩ quan cao cấp, nắm giữ các cương vị lãnh đạo của nghành công an)
Tôi chào bác ra về, bác bảo : Đợi bác tí. Bác quay vào phòng và bước ra , trên tay là một gói mứt Tết. ( Chắc là tiêu chuẩn Trưởng ty của bác) Bác nói: Cháu cầm về ăn Tết. Tôi ấp úng: Thưa bác... Bác nói: Bác cho, nhận đi...Tôi lí nhí cảm ơn bác... Về quê, tôi nhìn kỹ gói mứt: Có đủ các loại mứt dừa, mứt gừng, kẹo trứng chim và cả mứt hạt sen... thời đó đây là món quà quý! Tết đó ngoài các món bánh quê má tôi làm, tôi có thêm món mứt bác Lộc hàng quý hiếm thời đó. Sau này, khi ra đời đi làm, tôi có điều kiện thưởng nhiều món ngon vật lạ, nhưng không bao giờ tôi quên được gói mứt bác Lộc cho Tết năm 1976.
   Với chúng tôi những HSMN Quế Lâm, bác Lộc không chỉ là người thầy mà còn là cha, là mẹ của chúng tôi trong những năm xa nhà xa quê xa Tổ quốc. Tôi vẫn nhớ hồi ở Quế Lâm, mỗi lần trường có liên hoan, bác ghé xuống nhà ăn hỏi chúng tôi: Các cháu ăn ngon miệng không? Chúng tôi đáp: Dạ ngon ạ! Bác cười: Sẽ ngon hơn nếu món nước chấm ngon. Ở đây thịt heo chấm xì-dầu thì làm sao bằng chấm nước mắm quê mình... Chúng tôi cũng chỉ biết: Da... 
Hôm Hội HSMN Quế Lâm tổ chức mừng thọ bác 90 tuổi, bác vui lắm, sau buổi tiệc tôi chở bác về bằng xe máy. Trên đường các bạn gọi điện thoại nhắc nhở đưa bác về rồi quay lại...tiếp tục...Tôi vừa chạy xe vừa nghe điện thoại. Khi đến nhà, trước khi bác vào nhà còn nhắc tôi: Cháu vừa chạy xe vừa nói chuyện điện thoại là vi phạm luật đó, lần sau rút kinh nghiệm nhé! Tôi biết lỗi nên ậm ờ!
Thế đấy, bác Lộc của chúng tôi là thế đấy!


   Giờ thì: Tôi vừa đi thắp hương kính cẩn lạy đưa bác về với tổ tiên! 
  Thầy Tảo, thầy Từ, thầy Oánh ( Các thầy giáo dạy ở Trường HSMN Quế Lâm ) đại diện cho các thầy cô từ Miền Bắc vào đưa tiễn bác. 
Bác yên lòng bác nhé! Bác có quyền tự hào về chúng con những thế hệ HSMN, con cháu của bác đã làm việc cống hiến hết sức mình cho xã hội, cho đất nước!
  Và chúng con cũng tự hào có một người thầy, người bác, người cha như bác cả đời cống hiến hết mình cho sự nghiệp trồng người! Bác luôn là tấm gương sáng cho chúng con noi theo!
Vĩnh biệt bác: Người thầy, người cha của chúng con !

Thứ Năm, 7 tháng 7, 2016

Nhà giáo nhân dân Lê Phú Lộc: Người cả đời đồng hành với nền giáo dục cách mạng Việt Nam

Thầy trò bên nhau 

.
Nhà giáo nhân dân Lê Phú Lộc bắt đầu đứng trên bục giảng của nhà trường cách mạng từ năm 1948, trong vùng tự do Liên khu 5. Theo sáng kiến của đồng chí Phạm Văn Đồng - đại diện Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa tại miền Nam Trung Bộ, Trường Trung học Bình Dân miền Nam Trung Bộ được thành lập tại huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi và khai giảng niên khóa đầu tiên vào ngày mồng 6 tháng 9 năm 1947.
Rời cơ quan Tỉnh ủy Quảng Nam-Đà Nẵng theo sự điều động của tổ chức, người đảng viên Lê Phú Lộc, với hành trang chủ yếu là trình độ học vấn tốt nghiệp tú tài, một trình độ đương thời có thể xem là quý hiếm, đã vào Quảng Ngãi dạy Toán tại trường trung học bình dân đầu tiên ở nước ta (trong số những đồng nghiệp dạy cùng trường với ông hồi ấy có nhà thơ Tế Hanh dạy Văn)… So với số đông học viên là cán bộ đi học, ông hãy còn rất trẻ, bởi khi đó ông mới 26 tuổi và mới được kết nạp vào Đảng đầu năm 1947.
Năm 1985, ông kể với người viết bài này rằng, đồng chí Phạm Văn Đồng - Hiệu trưởng danh dự của nhà trường từng động viên ông ngay trong những ngày đầu ông nhận nhiệm vụ thọ nhơn/trồng người cao quý này: “Giáo dục cũng là một mặt trận”. Câu nói như một mệnh lệnh chiến trường ấy đã luôn thôi thúc ông trong suốt quá trình mấy mươi năm đồng hành với nền giáo dục cách mạng Việt Nam. Sau một thời gian đứng lớp, ông được giao trọng trách Hiệu trưởng nhà trường cho đến khi Trường Trung học Bình Dân miền Nam Trung Bộ kết thúc nhiệm vụ lịch sử vào năm 1952. Có thể nói, Nhà giáo nhân dân Lê Phú Lộc sớm bộc lộ tố chất của một nhà quản lý giáo dục, sớm trở thành người đứng đầu đội ngũ thầy cô giáo trong trường học (trong 34 năm gắn bó với nghề, đã có 24 năm ông làm cán bộ quản lý giáo dục).
Nhà giáo nhân dân Lê Phú Lộc “có duyên” với cái ghế hiệu trưởng đến mức niên khóa 1954-1955, trước khi xuống tàu tập kết ra miền Bắc theo tinh thần Hiệp định Genève tháng 7-1954, ông còn được tổ chức phân công làm Hiệu trưởng Trường cấp hai huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Và ngay khi mới đến Hải Phòng vừa giải phóng, ông được phân công làm Hiệu trưởng Trường Học sinh miền Nam số 24, sau đó lần lượt làm Hiệu trưởng Trường Học sinh miền Nam số 8, rồi Hiệu trưởng Trường Học sinh miền Nam số 6.
Năm 1965, Nhà giáo nhân dân Lê Phú Lộc được Bộ Giáo dục điều động về Hà Bắc làm Phó Hiệu trưởng Trường Trung cấp Sư phạm hệ 10+2 trực thuộc Bộ - một hệ đào tạo giáo viên cấp hai toàn cấp vừa được triển khai thí điểm lúc bấy giờ. Tuy nhiên, với hơn 10 năm kinh nghiệm quản lý trường học sinh miền Nam, đến năm 1967, một lần nữa ông được Bộ Giáo dục tín nhiệm cử sang Trung Quốc làm Phó Giám đốc - Phó Bí thư Đảng ủy Khu Giáo dục Học sinh miền Nam đang sơ tán tại Quế Lâm, tỉnh Quảng Tây để tránh bom đạn khi Mỹ đã mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền Bắc.
Nơi đất khách quê người, ông càng thấy nhớ miền Nam, càng thấy nhớ làng Cẩm Toại quê ông… Ngày 31-10-1974, ông làm thủ tục nhập cảnh để trở về Tổ quốc và đến ngày 28-4-1975, tức một tháng sau ngày Đà Nẵng được giải phóng, Nhà giáo nhân dân Lê Phú Lộc nhận Quyết định số 295/QĐ của Bộ Giáo dục, do Thứ trưởng Hồ Trúc ký điều động cán bộ/giáo viên về công tác tại Ban Tổ chức Trung ương để chuẩn bị vào Nam tiếp quản ngành Giáo dục tại các tỉnh mới vừa giải phóng. Cầm trên tay bản trích sao Quyết định số 295/QĐ có hai dòng chữ đánh máy: “Trường học sinh miền Nam Quế Lâm / Lê Phú Lộc, Phó giám đốc”, ông “không khóc nhưng vẫn trào nước mắt” (bài thơ Hôn mảnh đất quê hương của Thu Bồn) và trong giây phút đầy xúc động ấy, ông thấy mình đang ở gần lắm quê nhà sau bao năm xa cách.       
Những ngày đầu giải phóng, Nhà giáo nhân dân Lê Phú Lộc được phân công làm Hiệu trưởng Trường Trung học Phan Châu Trinh Đà Nẵng. Sau khi tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng được thành lập trên cơ sở hợp nhất tỉnh Quảng Nam và Đặc khu Quảng Đà, ông trở thành Trưởng ty Giáo dục và đảm đương chức vụ này cho đến ngày nghỉ hưu năm 1981. Đây là giai đoạn chuyển đổi đầy sôi động trong lịch sử giáo dục đất Quảng, nào là chỉ có trường công không còn trường tư, nào là sự lên ngôi của tiếng Nga trong dạy-học ngoại ngữ, nào là yêu cầu tiếp cận/thích nghi với chương trình và sách giáo khoa mới, đặc biệt là các môn văn chương và lịch sử… Làm người đứng đầu ngành Giáo dục cách mạng trong giai đoạn mang tính chất tiên phong khai mở này hoàn toàn không dễ.
Thế nhưng, lặng lẽ và khiêm nhường, hóm hỉnh và đôn hậu, điềm tĩnh và tự tin, Nhà giáo nhân dân Lê Phú Lộc đã mang hết tài năng và tâm huyết của một người luôn xác định “Giáo dục cũng là một mặt trận” để hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của mình, đóng góp xứng đáng vào tiến trình phát triển giáo dục của đất Quảng nói chung, của thành phố bên sông Hàn nói riêng. Người viết bài này có cơ duyên được gặp ông lần đầu vào năm 1980 tại Nhà khách Bộ Giáo dục ở đường Lê Thánh Tôn (thành phố Hồ Chí Minh), trong hội nghị chuyên đề về giáo dục con liệt sĩ. Nghe nói tôi là người Đà Nẵng công tác tại Ty Giáo dục Đồng Nai, ông tỏ ý “chiêu dụ” tôi về quê. Năm 1981, tôi làm đơn xin về Đà Nẵng, kèm theo một bức thư riêng gửi ông để nhắc lại cuộc chuyện trò năm trước, được ông vui vẻ chấp thuận, nhưng đầu năm học 1981-1982, khi tôi được tiếp nhận về Ty Giáo dục Quảng Nam-Đà Nẵng thì ông đã nghỉ hưu...  
Tối chủ nhật ngày 14-6 năm ngoái, tôi cùng với các anh Nguyễn Hoàng Long, Huỳnh Đức Thơ, Lê Trung Chinh, Lê Quang Sơn… ngồi ăn cơm với cô Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó Chủ tịch nước, nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục thời Nhà giáo nhân dân Lê Phú Lộc đương chức Trưởng ty, thì được biết ông đang nằm hồi sức cấp cứu ở Bệnh viện C mấy hôm rồi. Nghe tin, mọi người đều rất lo lắng cho sức khỏe của ông, sợ rằng tuổi ông đã cao, bệnh tình lại nặng…
Hơn một năm trôi qua kể từ tối hôm ấy, ông vẫn nằm trên giường bệnh với sự chăm sóc tận tình của con cháu, cho đến chiều nay - mồng 5 tháng 7 năm 2016, ông từ giã cõi đời này trong niềm tiếc thương vô hạn của gia đình và họ tộc, của đồng nghiệp và học trò cũ. Mấy dòng viết vội như một nén nhang lòng thành kính thắp lên vĩnh biệt Nhà giáo nhân dân Lê Phú Lộc - người cả đời đồng hành cùng nền giáo dục cách mạng Việt Nam. Cầu mong ông được yên nghỉ nơi cõi vô cùng…  
Bùi Văn Tiếng
;
.
.

Thứ Ba, 28 tháng 4, 2015

NHỚ ĐINH ĐÀO

9h35ph sáng ngày 30 tháng 3 năm 2015 nhận tin nhắn của Thiết Đà Nẵng báo tin : “Bạn Đinh Đào đã mất sáng sớm nay” cuộc sống như chợt sững lại. Hình ảnh Đinh Đào từ nơi xa xôi nào đó chợt ùa về .


Con người bằng xương bằng thịt của Đinh Đào như hiện rõ trong tâm trí .Nhớ lại năm 1972, vừa làm công tác Đoàn Đội , vừa trực tiếp dạy Toán cho lớp 6c của Đinh Đào, cho đến bây giờ dù đã trên 40 năm , tôi vẫn nhớ rõ tập thể ấy với Thầy Thao chủ nhiệm, Em Hoằng lớp trưởng, Em Tươi Bí thư chi đoàn .Đinh Đào học loại khá của lớp, là đội viên lớn, rất ngoan , nhiệt tình tham gia các hoạt động chung nhất là văn nghệ.Có lẽ mọi người nhớ nhất Đinh Đào gắn liền với tiết mục múa Tân Cương, chàng trai thảo nguyên vui nhộn có cái lắc cổ theo tiếng nhạc rộn ràng, điều khiển nhạc cụ đặc trưng luôn khiến khán giả cũng phải lắc lư theo tiếng nhạc . Lớp đó còn có Dương Xuân , Ông văn Xuân , Điểu , Thành ,2 Hường, Tâm , Hiền , Khương, Thảo,….và nhân vật đặc biệt Phương . Năm 2007 Đinh Đào lại tái hiện trong điệu múa Tân Cương của lễ kỷ niệm 40 năm Khu GD HSMN tại Đà nẵng . Chỉ nhìn em trên sân khấu còn Thày trò không có thời gian chuyện trò với nhau .Năm 2009, một ngày mùa thu Hà nội chợt nhận được cuộc điện thoại của Đinh Đào : Thày ơi, Em đang ở Hà nội, Em muốn gặp Thày. Thế là Tôi được gặp Đinh Đào , được ngồi uống cà phê với em tại phố Phan Đình Phùng đối diện Bộ Quốc phòng.Hôm ấy Tôi mới hiểu rõ cuộc đời gần 35 năm của Em từ một HSMN , không có điều kiện học tập thuận lợi, phấn đấu vươn lên từ một lính nghĩa vụ, bằng năng lực của mình đi qua các cấp bậc để trở thành một Đại tá - chính ủy sư đoàn có uy tín . Thày trò đồng cảm với nhau về quan niệm và cách sống . Con người vươn lên bằng chính năng lực của mình .Từ đó Tôi có điều kiện liên lạc với Em . Tôi lo lắng cho bệnh tình của em dù tích cực điều trị nhưng vẫn chậm tiến triển. Năm 2011 hai bố con Em tham gia chuyến thăm lại trường cũ mà Em hằng mong ước , cùng đi lớp 6C cũ có Thành , Điểu. Thày Trò , bè bạn có dịp ở bên nhau một tuần lễ, ôn lại chuyện xưa , cùng nhau chụp ảnh kỷ niệm .Cũng may trong chuyến đi ấy Tôi có được một số hình ảnh của Đào. Hơn 40 năm trong nghề dạy học, cái sàng thời gian chỉ để lại những gì sâu sắc , thiêng liêng  nhất . 8 năm đầu sự nghiệp ở Quế Lâm là viên ngọc lung linh , đáng nhớ , đáng sống trên cái sàng thời gian ấy. Nó giải thích vì sao Tôi có thể nhiệt tình , tận tâm vói nó. Nhìn vào viên ngọc đó Tôi hình dung được từng em học sinh với hình dáng , tính cách. Tôi muốn dõi theo cuộc sống từng em xem nó có được an lành không .Đinh Đào là một hình ảnh rõ nét trong viên ngọc đó .


                                                                                                         

          Hà Nội 4-4-2015

Thày giáo Trần Văn Từ .

Thứ Bảy, 18 tháng 4, 2015

ĐÊM YÊN SINH


Hồi ký- Đàm thị Ngọc Thơ

    Hồi đó tôi đã không tìm hiểu xem những tên gọi:Yên Sinh, Yên Tử, Kim Mã, Côn Sơn. . . trên vùng cánh cung Đông Triều này có tự bao giờ và dấu ấn lịch sử trong lòng của nó. Khi tôi về đây học cấp Trung học tại Trường nội trú HSMN Đông Triều thì vết tích của một vùng Thánh địa xưa cuả vua chúa thời Trần vẫn còn in dấu. Những bức tường thành đấp đất dầy kèm hàng tre còn hiển hiện tuy bờ đất còn vài tấc chân. Những đường tre, trúc vẫn cứ miệt mài sinh sôi, nảy nở như muốn muôn đời bảo bọc chân tường, bảo bọc những di tích lịch sử còn lại. Khu Côn Sơn cách Yên Sinh không xa. Đây là nơi Nguyễn Trãi –một thi nhân, một anh hùng dân tộc về đây ở ẩn. Và cũng chính ở nơi này ông gánh chịu vụ án Lệ Chi Viên. Côn Sơn lâu nay đã là khu di tích lịch sử. 

   Trường HSMN chúng tôi tọa lạc trên khu đồi Yên Sinh. Mõm đồi được sang bằng tạo dựng thành một sân trường rộng, được trồng những hàng thông làm cây che bóng mát để sinh hoạt. Xung quanh sân trường là những dãy nhà giành cho Ban giám hiệu, các phòng sinh hoạt Đoàn, Đội và chủ yếu là các dãy phòng học. Khu nhà ở của các nam nữ học sinh nằm hai bên triền đồi. Khu nhà của Thầy, Cô được xếp phía sau cho tiện sinh hoạt gia đình. Và sau nữa là con suối nhỏ lượn lờ chảy quanh đẹp đẽ, nên thơ. Xa xa dãy núi Đông Triều sừng sững bao bọc chở che cho Yên Sinh. Trước mặt trường là con đường đất đỏ chạy thẳng ra chợ Huyện Đông Triều. Con đường này và kể cả khu trường do các anh chị lớn tuổi, học những năm trước chúng tôi mở ra. 

   Những năm tôi học trường nội trú HSMN và kể cả sau này tôi quay lại trường dạy các em thế hệ vượt Trường Sơn chúng tôi đều rất bận. Nghĩa là nhà trường không để cho chúng tôi có thời gian rỗi, để chúng tôi không phải nhớ nhà, phân tâm việc học. 

   Tết Mậu thân 1968-thời điểm quyết liệt quân dân ta tấn công Mỹ, Ngụy giải phóng Miền Nam đi qua trong máu, lửa, hy sinh. Nhưng không một ai trong chúng tôi nao lòng. Chúng tôi vẫn kiên tâm chờ mong ngày thống nhất. Mẹ-Quê hương là tất cả cuộc đời, tất cả tình yêu trong mỗi chúng tôi. Ai đã từng xa nhà như chúng tôi mới có thể nhận ra điều đó. 

   Rồi những năm giặc Mỹ leo thang bắn phá ác liệt Miền Bắc. Chúng nhầm tưởng sẽ tiêu diệt được ý chí đấu tranh giải phóng Đất Nước của dân tộc ta. Nào ngờ, như lửa đổ thêm dầu, những trái tim yêu nước trên cả hai miền Nam Bắc càng sục sôi ý chí căm thù và chiến đấu giải phóng non sông, Thống nhất nước nhà. 

   Mùa xuân 1975 đã là mùa xuân lịch sử của dân tộc ta. Mỗi người dân Việt Nam có quyền khắc sâu vào trái tim mình niềm hãnh diện vô biên của người chiến thắng. Đầu tiên ta lần lượt giải phóng các tỉnh miền Trung. Khí thế xông lên, xốc tới của quân dân ta thật tuyệt vời. Đó cũng là những ngày luôn náo loạn ở trường tôi. Bởi nơi nào ở miền trung ấy cũng có học sinh của tôi. Với chúng tôi, nơi nào cũng là Quê hương, Tổ quốc . 

   Tôi còn nhớ ngày 26/3 là ngày giải phóng Thừa Thiên-Huế. Ngày 29/3 là ngày giải phóng Đà Nẵng. Và bỗng dưng chiến sự chựng lại rất lâu. Chúng tôi vô cùng nôn nóng và bối rối. Có lẽ nào? Có lẽ nào ta chỉ nhích được vĩ tuyến vào trong? KHông thể và không thế được. Và cái điều không thể ấy lịch sử không để xảy ra. 

   Đêm 29 rạng ngày 30 tháng 4 năm ấy Năm 1975 chúng ta tấn công vào Sài Gòn kết thúc cuộc chiến 21 năm trời Bắc Nam chia cắt đôi miền. 11h30 ta chiếm lĩnh toàn bộ những nơi xung yếu, tiến thẳng vào Dinh Độc lặp cắm lá cờ đỏ sao vàng thân yêu lên đỉnh Dinh khẳng định chủ quyền Đất Nước. Mãi đến 16h30 trường tôi mới nhận được tin qua Đài tiếng nói Việt Nam. 

“Giải phóng Sài Gòn rồi!”

“Giải phóng Miền Nam rồi!”

   Vang dậy khắp trường là tiếng hô, tiếng hét, tiếng khóc, tiếng cười. Trên gương mặt cả cô lẵn trò ràng rụa nước mắt sướng vui. Bắt đầu từ giờ phút ấy chúng tôi không có bữ cơm chiều và lập tức bắt đầu “Đêm không ngủ”. Các em học sinh đổ hết cơm canh ra bàn để lấy nồi tô nhôm đập cho vang dậy mừng chiến thăng. Rồi hát, rồi hò. Kể cả các cô chú cấp dưỡng, tiếp liệu chưa từng hò hát cũng bá vai nhau hát lạc cả tiếng. Đêm hôm đó và nhiều đêm sau nữa, chúng tôi làm náo loạn cả Yên Sinh. Không thể ngồi yên để dạy để học. Chỉ có một sự phấn khích và háo hức mong được sớm trở về May mà đã cuối tháng tư. Năm học cũng vừa kết thúc. 

   Sau đó không lâu chúng tôi được phân công lần lượt đưa các em về quê. Háo hức là vậy nhưng những phút giây rời xa Đông Triều, rời xa Miền Bắc sâu nặng nghĩa tình trong lòng chúng tôi đều lung linh nỗi nhớ. Thế mới biết thế nào là:

   Khi ta ở chỉ là nơi đất ở, 

   Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn”



Thứ Tư, 15 tháng 4, 2015

HÃY NGHIÊNG MÌNH TRƯỚC MỖI PHÚT GIÂY TA SỐNG (TT)

Ký – ĐÀM THỊ NGỌC THƠ

3. HÃY NGHIÊNG MÌNH TRƯỚC MỖI PHÚT GIÂY HÔM NAY TA SỐNG

Tôi đã từng thắp những nén nhang nơi nhà thờ các liệt sĩ nơi Bến Dược - Củ Chi. Tôi không biết phải để bao nhiêu thời gian để đọc hết các tên tuổi các liệt sĩ nơi ấy. Tôi chỉ biết trái tim tôi uất nghẹn, nước mắt trào dâng khi lướt nhìn dãy,  dãy các tên anh!
       Tuy chưa đến nhưng tôi đã từng được ngắm nhìn hàng hàng, lớp lớp những ngôi mồ liệt sĩ trong nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn-những ngôi mồ có tên và không tên tuổi đang xếp hàng ngay ngắn.
        Đó là chưa kể không biết bao nhiêu những nghĩa trang liệt sĩ ở các Huyện, Thành phố, các Tỉnh trên Đất nước Việt Nam hình chữ S này.
        Đất Mẹ Việt Nam ôm chặt vào lòng những đứa con hãy còn rất trẻ. Họ đi hỏi tội chiến tranh và để kết thúc chiến tranh. Họ đi đòi nợ máu-dòng máu Việt Nam anh hùng vẫn chưa ngừng chảy. Cả nước hành quân. Cả nước lên đường giành lại thống nhất giang sơn, giành lại bình yên cho Tổ quốc.
        Thanh niên lên đường nhập ngũ. Họ tình nguyện cầm súng chống trả kẻ thù đang bắn vào đồng bào của họ. Học sinh gác bút nghiên háo hức hướng về tiền tuyến. Họ sẵn sàng cầm cuốc, cầm xẻng lấp hố bom mở đường cho những đoàn xe, đoàn người ra trận. Những văn nghệ sĩ, nhà báo, giáo viên .  .  . Tất cả cho miền Nam, tất cả trên trận tuyến chống quân thù. Kể sao hết những người mẹ trên đất nước Việt Nam này đã hy sinh không chỉ một mà rất nhiều những người con cho cuộc chiến. Họ đã làm nên lịch sử. Họ đã thắm tô thêm màu cờ Tổ Quốc. Họ đã để lại những phút giây yên bình mà ta sống hôm nay. Dòng máu anh hùng đó vẫn luôn sục sôi trong lòng lớp trẻ hôm nay. Đúng như vị lãnh tụ kính yêu-Bác Hồ Chí Minh từng nói:’’Nó sẵn sàng nhấn chìm lũ cướp nước và bán nước’’
          Hãy ngắm nhìn kia khi những chiếc tàu của những kẻ lạ dã man xịt vòi nước vào những chiếc tàu làm ăn lương thiện của dân ta ngoài biển thì lớp trẻ Việt Nam phản ứng ra sao. Và những người chiến sĩ bảo vệ biển Việt Nam trả lời thế nào. Như những hòn than vùi sâu trong tro, lòng yêu nước khi cần khơi dậy nó bùng lên thành lửa đỏ. Dân tộc Việt Nam là thế đó. Bè lũ xâm lược hãy coi chừng. Ở Đất nước này ai cũng biết xả thân vì nghĩa lớn, ai cũng biết hy sinh.
          Thật thiêng liêng là những người đã ngã xuống cho chúng ta hôm nay. Ở đâu trên mảnh đất này đâu đâu cũng đều thắm máu hy sinh của những người con dân tộc. Nên bạn ơi! Hãy khẽ thôi! Hãy biết nghiêng mình trong mỗi phút giây ta sống. Để những người ra đi được yên lòng khi họ cảm nhận được rằng họ đã xứng đáng với sự hy sinh.

         

HÃY NGHIÊNG MÌNH TRƯỚC MỖI PHÚT GIÂY TA SỐNG (TT)

Ký – ĐÀM THỊ NGỌC THƠ

2. Khát vọng

Mỗi khi Đất Nước có chiến tranh thì lớp lớp những người con của Đất nước ra trận. Hình ảnh Trần Quốc Toản bóp nát trái cam, hình ảnh của những Kim Đồng, những Lê văn Tám là những hình ảnh sáng ngời của lòng nồng nàn yêu nước ấy.  
        Sau chiến thắng Điện Biên lịch sử, có rất nhiều con em cán bộ Miền Nam tập kết ra Bắc theo chủ trương của Đảng và Bác Hồ là đào tạo cán bộ có trình độ cho Miền Nam.
         Nhưng ngày giải phóng Miền Nam cứ dài ra, không phải hai năm mà ba, bốn, năm và dài ra mãi …  Những luật 10/59 của kẻ thù kéo lê máy chém giết hại cán bộ Cách mạng của ta. Rồi vụ giết hàng ngàn cán bộ Cách mạng trong trại giam Phú lợi. Những vụ thảm sát tàn độc ở Vĩnh Trinh,  Ngân Sơn,  Hướng Điền, Sơn Mỹ…  làm cháy lòng chúng tôi. Những đêm cùng nhau thức trắng hướng về Nam. Những lần cùng nhau ghi tên tình nguyện về Nam chiến đấu cứ liên tục. Máu chảy ở quê nhà thúc dục lòng những đứa con xa. Chúng tôi tìm đủ mọi cơ hội, len lỏi vào đủ mọi danh sách có thể để chỉ được lọt về Nam làm bất cứ việc gì. Cho mãi đến khi chúng tôi tốt nghiệp Đại học. Nhiều bạn tôi đã được lái máy bay dũng cảm nhắm thẳng vào kẻ thù nã đạn.  Như Đồng Văn Đe, như Sâm Kỳ, như Nguyễn Văn Bảy(B). Nguyễn Văn Bảy(B) đang nằm ở nghĩa trang liệt sĩ Tỉnh Cà Mau. Lê Anh Xuân, Chu Cẩm Phong cầm bút viết văn, làm thơ, làm nhạc nơi chiến trường lửa đỏ và làm nên “Dáng đứng Việt Nam”. Có cả những học sinh của tôi đã vượt Trường Sơn ra Bắc học rồi trở về Nam chiến đấu hy sinh như Phương Thảo …  Đội ngũ HSMN trở về Nam sau Đại học theo chủ trương đào tạo cho Miền Nam không sao kể hết và không có lĩnh vực nào là không có. Từ giáo dục,  y tế, công nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng… Nhiều bạn tôi trên đường về hoặc đi công tác cũng đã bị địch bắt giam cầm tra tấn đày ra Côn Đảo. Thế mới biết Đất Nước này không của riêng ai, nỗi đau này không của riêng ai và trách nhiệm giải phóng Miền Nam là trách nhiệm của toàn dân tộc.  
       Ở Cà Mau chúng tôi có các bạn Hữu Liêm, Hữu Thành, Quách Tâm, Bê, Lãm ra đi mang theo lòng mình những cánh rừng ngập mặn nơi chót mũi Cà Mau. Tốt nghiệp Đại học các bạn về lại Miền nam trước giải phóng và đã làm nên chuyện cho quê hương mình. Đó là việc quy hoạch lại những cánh rừng ngập mặn, mở những trường hướng nghiệp nông lâm. Là việc bạn Liễu thuần dưỡng loài trăn, tạo sân chim giữa lòng thành phố, làm nên nhà sàn Bác Hồ nơi mảnh đất cuối trời. Ta có bác sĩ Long, bác sĩ Danh Mai, bác sĩ Lễ là HSMN. Ngành công nghiệp có Dương văn Ẩn, Nguyễn Năm, nghành giáo dục có Trung Việt, cô Đào, Cô Ngọc Nhãn …  Tôi cũng đã từng theo các bạn, từng len lõi vào các danh sách đi B. Tôi cũng đã từng ghi tên vào lớp  đào tạo phóng viên ngắn hạn sáu tháng cho Miền Nam. Tôi cũng đã từng bỏ Đại học tổng hợp xin qua Sư phạm để được nhanh chóng về Nam. Nhưng số tôi không may. Vào đội ngũ nào tôi cũng bị gạt lại. Sau 30/4 chú Dương Tấn Phát Cục quản lý HSMN vội vả cử tôi đưa các em HSMN là Nam bộ về. Chú nói:  Con cứ về rồi ở luôn trong đó. Giấy tờ thuyên chuyển chú sẽ gởi về cho con. Trời đất! Vậy là bấy lâu nay tôi bị giam lỏng mà không hay. Chú là bạn chiến đấu của ba tôi thời chống Pháp: Cùng là huyện ủy viên Huyện Hồng Dân những năm 47-54.

     Giờ này chắc chú và Ba đang hàn huyên dưới đó mừng ngày Thống nhất nước nhà. Riêng tôi vẫn luôn chạnh lòng vì khát vọng không thành- cái khát vọng muốn được góp chút lửa vào đám cháy lớn - Giải phóng Miền Nam, thống nhất nước nhà. 

HÃY NGHIÊNG MÌNH TRƯỚC MỖI PHÚT GIÂY TA SỐNG

Ký – ĐÀM THỊ NGỌC THƠ

1. Chung vai gánh vác non sông


    Tôi vẫn hiểu: Vĩ tuyến 17- ranh giới tạm thời chia hai miền Đất nước chỉ là để khoanh vùng tập kết cho lực lượng hai bên. Còn cái nghĩa Đất nước luôn trọn vẹn và thiêng liêng trong tất cả mọi tấm lòng của người dân Nam Việt. Bởi lẽ đó mà ngay sau khi hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, ngay sau khi người Miền Nam đầu tiên tập kết đặt chân ra đất Bắc, nhân dân miền Bắc đã vội vã đùm bọc cưu mang.  Họ coi đó là sứ mệnh lịch sử thiêng liêng, là tình cảm yêu thương, trách nhiệm.
     Tôi còn nhớ ngày tàu tôi cập bến Sầm Sơn, nhân dân Thanh Hóa đứng đông nghịt trên bến tàu hân hoan chào đón. Rồi chúng tôi được nhanh chóng đưa về các dãy lán trại đã trải sẵn ổ rơm với đầy đủ áo,  mền chống cái rét chưa quen nơi đất Bắc. Trong khi miền Bắc vừa thoát khỏi chiến tranh, nhân dân miền Bắc còn đói khát trăm bề. Tuần lễ nghĩ dưỡng ở đây, ngày ba bữa chúng tôi được ăn uống no đủ để phục hồi sức khỏe sau chuyến vượt biển. Lúc ấy chúng tôi chưa biết được những cố gắng vượt bậc của Đảng, Bác Hồ và nhân dân miền Bắc cho đồng bào miền Nam tập kết cũng như cho cuộc đấu tranh chính trị vì miền Nam, vì cả nước. Mãi đến khi chúng tôi được chia về các xã gần đó của huyện Nông  Cống chờ ngày chuyển giao về cho các trường nội trú chúng tôi mới được nhìn rõ những chịu đựng,  những xẻ chia đến tận cùng của miền Bắc cho nửa khúc ruột yêu thương.
     Hãy bắt đầu từ những bữa cơm của chúng tôi - những bữa cơm nuốt nghẹn ngào qua nước mắt. Không phải vì cơm không đủ no, thiếu cái để nuốt trôi cơm vào bụng,  mà vì chúng tôi ăn cơm trong một cái lán che tạm nhưng được vây kín bằng một hàng rào dây thép gai. Bên ngoài là những em bé độ tuổi lên 6 lên 8 trần truồng giữa cái rét cắt thịt da của tháng 12. Trên tay một vài em cầm những cọng dây khoai lang đã héo. Đôi mắt các em thèm thuồng nhìn về phía chúng tôi. Các em không dám xin mà chúng tôi cũng không được phép cho dù chỉ một vài muỗng cho đỡ thèm. Thanh Hóa những ngày đó chưa kịp làm lại điều gì sau chiến tranh lại vội vã trực tiếp gánh vác sứ mệnh lịch sử nặng nề:đón tiếp mấy chục ngàn cán bộ, bộ đội, HSMN tập kết ra Bắc!
     Đâu phải cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xăm lược và bè lũ tay sai bán nước những ngày lịch sử đó là của đồng bào miền Nam? Sau những năm miền Bắc âm thầm chi viện sức của cho miền Nam đấu tranh theo hiệp định, bọn giặc bội ước,  xé nát hiệp định Giơ-ne-vơ, cả nước ta rầm rập lên đường ”Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu Nước”. Đếm sao hết những người mẹ trên đất Bắc dõi vào Nam ngóng theo bước chân con. Đếm sao hết những người vợ trẻ trên đất Bắc ngóng trông chồng từng đêm không ngủ. Rồi vì nửa nước yêu thương, vì miền Nam ruột thịt họ tiếp bước lên đường vào với chiến trường xa không ngại gian nan vất vả, sá chi cái chết rập rình. Đếm sao hết những nấm mồ liệt sĩ đã hy sinh trên chiến trường miền Nam, bao nhiêu ngôi mồ có tên và vô danh nằm hiu hắt đó đây mà đồng đội, thân nhân còn chưa nhận diện. Sẽ thật tội lỗi khi ta chỉ nhớ đến niềm vui của những người miền Nam tập kết, giải phóng miền Nam được sum họp gia đình mà quên mất niềm vui đến tột cùng của nửa nước yêu thương-nơi đất Bắc đang chờ đón tin con.  
      Thoáng một cái đã tròn 40 năm kể từ ngày giải phóng. Mẹ nuôi tôi, người Hà Nội mới vừa tìm được mộ con trai hy sinh ở mặt trận Khe Sanh. Tìm được hài cốt con trai về mẹ không cho hạ huyệt. Mẹ bảo chờ vài hôm nữa đến giỗ anh ấy rồi hẳn hạ huyệt. Năm rồi cúng cơm em nhà tề tựu không thiếu một ai. Cúng cơm em hôm trước, hôm sau mẹ xuôi tay nhắm mắt hưởng thọ 94 tuổi. Chúng tôi đành dời ngày truy điệu hạ huyệt cho em vào đầu năm sau cho thuận lẽ trời,  hạp lòng mẹ.
      Chiến tranh là thế: Nó đã lùi xa nhưng vẫn còn cất giữ trong nó biết bao điều bí ẩn!
    
                                                                   Cà Mau, ngày 08 tháng 04 năm 2015

                                                                                Đàm Thị Ngọc Thơ

Thứ Ba, 13 tháng 1, 2015

Các Quế và cựu HSMN thắp hương Thầy BÙI QUANG TẠO (1929-2015) ở đây!




Thầy Bùi Quang Tạo quê ở H Trà Bồng , T Quảng Ngãi. Mùa Hè năm 1974, thầy thôi làm Hiệu phó Trường HSMN số 1 Đông Triều , Quảng Ninh sang QL làm Hiệu trưởng Trường CII NVB, Khu GDHSMN QL TQ và là HT cuối cùng trước khi trường CII NVB giải tán. Tôi là lớp nhớn cuối cùng, về nước sau cùng với thầy khi giải tán trường CII NVB tháng 8-1975. Tôi vẫn nhớ như in hình ảnh thầy nhảy múa, reo hò cùng lũ học trò xa xứ chúng tôi khi nghe tin SG giải phóng, MN hoàn toàn giải phóng. Trong nước mắt dàn dụa vì vui mừng, thầy hét vang: " Các con ơi, MN mình giải phóng rồi...Chúng ta sắp được về quê rồi...!!!"
Những năm sau này, chúng tôi lũ Quế ĐNa lại được sống cùng thp với thầy. Vẫn gặp thăm hỏi thày trong nhiều dịp gặp mặt. Thầy phúc hậu như ông tiên với nụ cười hiền từ. (Ngày trước chúng tôi, hs cII NVB đời cuối rất sợ và nghe lời thầy răm rắp, thầy là người cha uy nghi của chúng con). Tuần trước, các bạn HSMN vừa đến chúc thọ thầy, MTr (SG) gởi "bức Khánh" ( lời chị Tuyết-ĐN) Chúc thọ Thầy, thầy vui lắm. Thầy còn tiễn các anh chị khi ra về, thế mà nay thầy đã ra đi...
Một nén nhang chúng con cuối đầu lạy thầy, người thầy đã giành phần lớn đời dạy học cho lũ chúng con những HSMN trên đất Bắc!

Thứ Hai, 12 tháng 1, 2015

TIN BUỒN.

Thầy giáo BÙI QUANG TẠO,
Nguyên Phó Hiệu trưởng Trường HSMN số I Đông Triều, Quảng Ninh.
Nguyên Hiệu trưởng Trường CII NVB - Khu GDHSMN Quế Lâm, TQ (Năm học 1974-1975).
Do tuổi cao sức yếu đã từ trần ngày 11 tháng 01 năm 2015 (21-11 AL), tại nhà riêng  Quận Thanh Khê, Tp Đà Nẵng.

 TGTB Kính báo!

Hội Quế Đà Nẵng tối nay Thứ Hai , ngày 12 tháng 01 năm 2015, lúc 19 h sẽ đến viếng Thầy.
Địa điểm tập trung: trước trụ sở Công an Quận Thanh Khê, tp Đà Nẵng






Ngày 19 tháng 11 năm 2014, Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng Văn Hữu Chiến (cựu HSMN ĐT) thăm tặng quà và tặng hoa thầy Bùi Quang Tạo nhân ngày Nhà giáo Việt Nam 20 tháng 11.

Thứ Tư, 24 tháng 12, 2014

THĂM CÔ GIÁO CHỦ NHIỆM Trường Cấp I Nguyễn Văn Bé

Điện thoại cho cô hỏi thăm cô có lên Hà Nội "60 mươi năm trường HSMN" không? Cơ bản là chiều thứ 6 (12/12) gặp mặt thầy trò Quế Lâm? Cô nói: Cô sẽ cố gắng đi,  nhưng sức khỏe không biết thế nào. Chuẩn bị bay ra thì điện lại cho cô, Cô ốm. Cô nói mấy đứa có về thăm cô được không? Để bọn em sắp xếp. Cân nhắc giữa việc theo về Đông Triều (thực sự thì chỉ quá cảnh ĐT có mấy ngày trước khi về Nam chứ có học ở đó đâu mà trường cũ với những kỷ niệm, kỷ niệm xưa ở Quế hết rồi) và về Hải Phòng thăm cô, triệu hồi được 7 tên, có 6 tên hs cô chủ nhiệm từ lớp 1-3 và Hồng Hạnh - Quảng Trị tuổi nhỏ lớp to, sau này đội này học vượt rồi cùng 7H (74-75). Sau khi giải quyết cho 2 nữ đc ở miền núi Phú Yên gần 40 năm mới ra lại Thủ đô vào viếng HCT, chúng tôi nhằm hướng Hải Phòng phi. Qua Hải Dương được các đc CSGT luộc mất 2 chai, kiên quyết không cho nó thoát dù đã nói tiếng MN năn nỉ ỉ ôi. Hơn 12h, chúng đến Tiên Lãng, HP. Cô và cả gia đình đã chờ đón chúng tôi từ ngoài đường. Tôi trong những chuyến công tác  phía Bắc đã về nhà cô 2 lần nên làm nhiệm vụ dẫn đường. Gặp nhau cô trò ngỡ ngàng, cô và các nữ đc nước mắt tuôn trào làm chúng tôi cũng rưng rưng. Hai lần trước tôi về thăm cô còn chú, chú không nhậu được nhiều nhưng chú cứ bắt tôi phải làm tí cay cay, nay chú đã đi xa, một nén nhang tưởng nhớ người đã khuất. Năm 2000, lần đầu tôi ghé thăm cô chú, đưa cô vào Đà Nẵng chơi gần 1 tháng, lúc đó trông cô còn nhanh nhẹn. Nay gần 15 năm, trông cô yếu đi nhiều, cô nói đã 73 tuổi. Bà con xóm giềng chia vui cùng cô, bà giáo già có nhiều "ông học trò MN'' to như ông Tây đến thăm, một điều thưa cô, hai điều thưa cô, có ông còn xưng con với cô nữa, họ cứ trố mắt ngạc nhiên. Bảy học trò về thăm cô  có: 2 nữ Y sĩ, 1 nữ Hiệu trưởng trường Tiểu học, 3 người làm doanh nghiệp và 1 sĩ quan an ninh. Tiệc cô giáo tiếp học trò có bia rượu, thịt cá nhưng thích nhất là rau miền Bắc mùa Đông phong phú. Nói với con gái cô (cô có hai người con, con gái dạy trung học, con trai dạy Đại học): Các em cũng có học trò, nhưng sẽ chẳng bao giờ có được tình cảm thầy trò như tình cảm Mẹ - Cô giáo  và các anh chị - Học trò. Vì rằng mẹ các em không chỉ là cô giáo đơn thuần như các em với học trò mà còn là cha, là mẹ, là anh chị, là bạn bè...của các anh các chị, cả tuổi trẻ đã hy sinh vì các anh các chị, vì Miền Nam thân yêu...Mấy em cố chăm mẹ khỏe, để hè tới các anh chị mời mẹ vào thăm chơi MN, giờ các anh chị nhiều người đã nghỉ hưu nên cũng có thời gian, những năm trước còn bận bịu. Cô ơi, gắng khỏe cô nhé, chúng em lại đưa cô thăm thú quê hương chúng em, gặp lại nhiều học trò mà cô hằng yêu quý. Vẫn mong có ngày lại được đón cô vào Nam!!!


Thứ Ba, 23 tháng 12, 2014

CHỘP VỘI AI TRÒ AI THẦY CÔ?




Tôi cầm ĐTDĐ và lia tới số cố ghi lại những khuôn mặt thân quen, ham quá, vui quá kẹp thế nào đt hết pin. Tôi đã chuẩn bị ăc-qui nhưng lại để quên ở nơi ở NKQH, nên phải taxi về lấy ăc-qui không được thưởng thức các tiết mục văn nghệ của Quế nên không có tấm hình nào về các diễn viên Quế, thật tiếc.




H1: Từ trái sang: cô Trâm vợ thầy Từ, cô Nồng Y tá - Bệnh xá, cô..., cô Bình - vợ thầy Xã, cấp dưỡng CI NVB.

H2: Từ trái sang: cô Hồng bảo mẫu CI NVB, cô Dung - VP BGĐ Khu GDHSMNQL, cô Liên bảo mẫu CINVB...

Chủ Nhật, 21 tháng 12, 2014

Sáu mươi năm - Ngày gặp mặt

Sáu mươi năm - Ngày gặp mặt 

Sáu mươi năm mới có ngày
Thầy trò Nam Bắc sum vầy bên nhau.
Thỏa lòng mong đợi bấy lâu
Biết bao kỉ niệm tươi màu còn đây.
Nhớ ngày trò nhỏ thơ ngây
Long lanh ánh mắt mê say tiếng cười.
Các em như đóa hoa đời
Sắc hương muôn vẻ ngời ngời nét xuân.
Gặp nhau mừng tủi bội phần
Cùng nhau ôn lại bao lần gian lao.
Vui mà mắt lệ cứ trào
Lời ca tiếng hát vút cao lưng trời.
Chia tay lòng dạ bồi hồi
Hẹn ngày gặp lại chính ngôi trường mình.

Nguyễn Thị Vân Nga
18/12/2014


"Thiện và tâm" - Lê Văn Kiểm

( Nhân đọc quyển sách của Anh hùng Lao động Lê Văn Kiểm, cô có bài thơ tặng anh Kiểm, chị Nhung ).

"Thiện và tâm" - Lê Văn Kiểm
Anh hùng Văn Kiểm, Cẩm Nhung
Trai tài gái sắc đẹp cùng lứa đôi.
Miền Nam máu lửa sục sôi
Chiến trường muôn nẻo chẳng rời đôi chân.
Khó khăn quyết chẳng ngại ngần
Vượt lên gian khó, qua lần tai ương*.
Mãi là người lính chiến trường
Bền gan vững trí con đường mình đi.
Tròng trành thuyền cũng có khi
Bàn tay vững lái vẫn đi đúng luồng.
Ngợi ca tỏa khắp bốn phương
Như anh doanh nghiệp, thương trường mấy ai.
"Thức lâu mới biết đêm dài"
Tấm lòng nhân ái mấy ai sánh bằng.
Anh hùng Lao động được phong
"Sứ giả nhân ái" trong lòng nhân dân.
Vẫn là tư chất kiệm cần
Xưa ươm giống đỏ, nay mầm biếc xanh.
Miền Bắc nuôi dưỡng nên anh
Miền Nam dựng nghiệp thành danh tự hào.
Yêu đất nước, nghĩa đồng bào
Thầy xưa, trò cũ biết bao ân tình...

Nguyễn Thị Vân Nga
18/12/2014

Sáu mươi năm - Ngày gặp mặt

Thầy cô giáo và bạn Trung Quốc tại trường Dân tộc khu giáo dục HSMN Quế lâm năm 1972

Sáu mươi năm - Ngày gặp mặt

Sáu mươi năm đã mấy vạn ngày
Thầy trò bạn hữu lại về đây
Xốn xang lòng dạ vui biết mấy
Mừng sao lệ mắt cứ dâng đầy.

          Nhớn nhác tìm nhau có thấy đâu
          Biển người cuồn cuộn lẫn trong nhau
          Căm căm cái rét mà sao ấm
          Thấp thoáng thầy cô trắng mái đầu.
                   
                     Về đây gặp lại các trò yêu 
                     Vẫn nhớ như in những buổi chiều
                     Xưa sao nghịch ngợm là như thế
                     Giờ đây nhân cách đẹp bao nhiêu.

                                Thầy cô vui lắm các em ơi
                                Tất cả hôm nay đã nên người
                                Góp vào sự nghiệp xây non nước
                                Cho Tổ quốc ta mãi rạng ngời.

Nguyễn Thị Vân Nga
18/12/2014

Thứ Bảy, 20 tháng 12, 2014

Kỉ niệm sâu sắc trong đời dạy học

Ngày 5-4-1971, ngày quyết định cuộc đời của tôi đã bước vào con đường làm nghề dạy học. Rời xa mái trường SPBTVH TW tại Thuận Thành, Bắc Ninh để lên đường sang Quế Lâm, Trung Quốc dạy HSMN, nghe lời kêu gọi của Đảng. Mọi tầng lớp thanh niên đã lên đường nhập ngũ khác với các bạn cùng trang lứa không ra chiến trường khi Tổ quốc đang đối chọi với bọn giặc ngoại xâm là Đế Quốc Mỹ. Chúng tôi, những người thanh niên nam nữ với tuổi thanh xuân đang tràn trề nhiệt huyết và sức trẻ đã bước chân vào trận chiến không tiếng súng. Nhờ có đường lối lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Bác Hồ đã nhận rõ vận mệnh của Tổ quốc là sẽ chiến thắng trong cuộc kháng chiến trường kì của dân tộc. Vậy phải nghĩ tới đội ngũ tri thức sau này sẽ xây dựng Tổ quốc của chúng ta hùng mạnh hơn mà Đảng đã chọn  những em HSMN đủ mọi lứa tuổi, mọi dân tộc, đưa đi học tập, giáo dưỡng để sau này sẽ là nòng cốt cho dân tộc sau này giải phóng. Phải nói rằng: Đây là một tầm nhìn chiến lược và sáng suốt của Đảng ta. Những em HSMN "tuổi nhỏ mà trí không nhỏ". Các em đã là những dũng sĩ diệt Mỹ ở các mặt trận phía Nam. Các em hầu hết là con của các chiến sĩ cách mạng đang chiến đấu ở mặt trận. Các em là "hạt giống đỏ" của Tổ quốc.

Thứ Hai, 15 tháng 12, 2014

TẢN MẠN HSMN

Q.MF
     Có một danh từ không có trong từ điển các danh từ tiếng Việt, thường được viết tắt là HSMN; có một hội không cố định trong mạng lưới các hiệp hội ở Việt nam: Hội Học sinh Miền Nam; có một đường dây liên lạc không vô tuyến mà cũng chẳng hữu tuyến, nối liền giữa các miền đất của bản đồ nước Việt hình chữ S: Ban liên lạc HSNM, và có một huyết thống tình cảm thật lạ, ngoài phạm trù sinh học, nó kết nối một mối tình tha thiết và mãnh liệt giữa những con người không có máu mủ ruột rà, chẳng bà con họ hàng, không cùng một quê hương, không cùng môt thế hệ, không cùng một mái trường và không kể gì đã biết nhau rồi hay chưa, hễ nghe xưng là HSMN, thì lập tức mừng tủi, sẵn sàng thương yêu, dìu dắt và giúp đỡ nhau. Ấy là bởi vì 50 năm trước đã có những mái trường mang tên Trường HSMN được hình thành trên đất Bắc, rồi 30 năm qua từ lúc những mái trường này giải tán, lưu lại cho những đứa trẻ đã lớn lên từ đó một ký ức thương nhớ khôn nguôi. Hai mươi năm tồn tại là hai mươi năm xây dựng nên một mối ân tình lạ lùng của Nhân dân miền Bắc đối với con em Miền Nam, của những Thầy, Cô, Má 2 Miền tình nguyện thay thế những người cha, người mẹ của những đứa trẻ xa vắng quê hương. Nó là mối ân tình anh chị em ruột thịt được nảy sinh một cách lạ lùng giữa các học trò qua các thế hệ. 

NHẬT KÝ HÀNH TRÌNH ( tt )

 17 giờ ngày 12-12-2014 tại khách sạn Kim Liên Hà Nội, bạn bè cũ học ở Quế Lâm, Đông Triều gặp nhau, mừng mừng, tủi tủi, bởi có người đã 40, 45 năm xa cách giờ mới gặp nhau, có người nhận ra nhau ngay, nhưng cũng có người sau một hồi kể lại những kỷ niệm xưa mới "ồ, à nhận ra rồi". Cuộc gặp gỡ thật là cảm động, có nhiều tiếng cười nhưng cũngcó nhiều giọt nước mắt!
Và thầy trò gặp nhau