Số lượt xem tuần trước

Thứ Sáu, ngày 01 tháng 8 năm 2014

Họp mặt nhân ngày TBLS 27-7 tại nhà Trang Quang Thành ĐĂKLĂK

Sáng qua vừa gặp Trúc (HSMN ĐT - vợ Thành ) ở ĐNa. Hỏi phe ta mới hội ở nhà Tr? Hôm đó xong rồi em mới đi.  
Hôm 26-7, sau cuộc điện thoại với Siu ở ĐL. Tối đó vào NTLSĐB thắp hương ông già và các liệt sĩ, đt cho Siu là có thay mặt Siu , Bắc Bò và Ba Chột thắp hương cho ông già . Siu chuyển đt cho TQ Thành. Tao nghe ae nói chiều mày cúng ông già. Không chỉ cúng ông già, tao cúng tất cả các ông già của ae con LS bọn mình, cũng như các AHLS hy sinh vì đất nước này và cũng là dịp gặp mặt ae. Ôi bạn tôi, lãnh đạo có khác. Th chuyển đt cho YALia. Nó nói: Ae con ls ĐL đang tụ tại nhà Thành. Nó điểm danh có BB, Khôi Lé. Con TB có Siu, và Chột. Ông PBTCTU nói hàng lô xích xông về tình thương mến thương của ae con LS, lũ HSMN chúng mình, rất chi là "quan điểm". Nói Khôi lé: Mày chụp ảnh ae gửi cho tao. Nó nói: Ba Chột chụp quá trời rồi. Và hôm nay hốt của Chột vài ảnh đưa zìa đây.




Ảnh 1: Từ trái sang: Khôi lé (phải không ta: hình như Kh chỉnh lại mắt rồi, hết lé rồi thìh phải?), YALia, TQ Thành, Bắc Bò, ai ta?, Ba Chột, Siu Nam Tiến.



Ảnh 2: như ảnh 1



Ảnh 3: YALia nhập  đồng, Bác Bò hoảng quá!

(Ảnh lấy từ fac của Ba Chột)

Thứ Năm, ngày 31 tháng 7 năm 2014


DANH TƯỚNG NGUYỄN TRI PHƯƠNG VỚI
 THÀNH ĐIỆN HẢI ( ĐÀ NẴNG )





Nguyễn Tri Phương và nghệ thuật quân sự chống ngoại xâm


Tại Thành Điện Hải (Đà Nẵng), Hội Khoa học Lịch sử (KHLS) TP Đà Nẵng và tỉnh Thừa Thiên Huế vừa phối hợp tổ chức Hội thảo khoa học về “Vai trò Nguyễn Tri Phương trên mặt trận Đà Nẵng trong kháng chiến chống liên quân Pháp – Tây Ban Nha, 1858-1860”. Tại đây, các nhà khoa học một lần nữa khẳng định vai trò của ông đối với những ngày đầu kháng Pháp tại Đà Nẵng.

Nguyễn Tri Phương là danh tướng triều Nguyễn, cuộc đời trận mạc của ông trải dài khắp đất nước: chỉ huy chiến đấu bảo vệ Sài Gòn từ năm 1860 đến năm 1861, chỉ huy chiến đấu tử thủ Hà Nội năm 1873…nhưng tên tuổi của ông được lưu danh thiên cổ, khẳng định tài năng và nghệ thuật quân sự của ông, có lẽ đó là cuộc kháng chiến chống liên quân Pháp-Tây Ban Nha từ năm 1858-1860 trên mặt trận Đà Nẵng.
Liên quân Pháp-Tây Ban Nha đánh chiếm Thành Điện Hải
Ông Bùi Văn Tiếng, Chủ tịch Hội KHLS TP Đà Nẵng, cho rằng: “Chính nhờ được người đứng đầu đất nước cho luân chuyển để đào tạo - nói theo ngôn ngữ công tác cán bộ bây giờ - mà Nguyễn Tri Phương có điều kiện thâm nhập thực tế chiến trường Đà Nẵng từ trước chiến tranh và nhờ vậy so với các tư lệnh mặt trận tiền nhiệm như Lê Đình Lý hay Chu Phước Minh… Ông có cái nhìn toàn cục hơn về hệ thống phòng thủ cửa Hàn, không chỉ am hiểu từng pháo đài đồn lũy mà còn trực tiếp chỉ đạo xây dựng pháo đài Phòng Hải ở đảo Mỏ Diều. Điều quan trọng hơn là nhờ sớm thâm nhập thực tế chiến trường Đà Nẵng nên khi trở lại mặt trận Đà Nẵng vào 10-1858, thời điểm cả phòng tuyến Điện Hải và An Hải đều bị vỡ, Nguyễn Tri Phương có thể nhanh chóng cho xây dựng phòng tuyến Liên Trì nhằm thực hiện thành công kế sách “lấy thủ làm chiến, xây dựng thêm đồn lũy để dần dần tiến bức địch”. Và quả thực, Pháp bị đội quân của Nguyễn Tri Phương “cầm chân” đến mức rơi vào bế tắc và chấp nhận rút toàn bộ quân đội viễn chinh khỏi Đà Nẵng vào 23-3-1860.”.
PGS.TS Đỗ Bang, Chủ tịch Hội KHLS tỉnh Thừa Thiên Huế, nhận định: Những tướng được triều Nguyễn điều động vào Đà Nẵng lúc bấy giờ đều là những tướng tài và có kinh nghiệm. Đặc biệt là Nguyễn Tri Phương, ông đã đi rất nhiều nước có cả những vùng thuộc địa của Pháp ở Ấn Độ cùng với những năm tháng chống giặc Xiêm và bọn phỉ ở phía Nam. Ngay sau khi nắm quyền chỉ huy, Nguyễn Tri Phương cùng với quân dân ở đây đã tiến hành thực hiện những kế sách đánh Pháp hợp lý, cho lập đồn Liên Trì và đắp lũy dài từ Hải Châu cho đến Phúc Ninh, rồi chia quân ra phòng giữ. Cùng với việc xây dựng đồn lũy, Nguyễn Tri Phương còn vận dụng nhiều cách đánh sáng tạo như đánh du kích làm tiêu hao lực lượng của Pháp hay đã cùng với nhân dân lấy lưới bủa vây làm cho bánh lái, chân vịt của tàu Pháp bị vướng gặp khó khăn trong lúc di chuyển.

Mộ Liên quân Pháp - Tây Ban Nha bị quân đội Triều Nguyễn do 
Nguyễn Tri Phương chỉ huy đánh tử trận tại Tiên Sa - Sơn Trà.
Đặc biệt, trong Hội thảo này, nhà báo, nhà văn Hồ Trung Tú đã kiến giải mới về cuộc kháng chiến chống liên quân Pháp – Tây Ban Nha dưới góc độ “bản đồ học” bằng việc phân tích tấm bản đồ chiến sự năm 1858. Tấm bản đồ có tên tiếng Pháp là “Positions de Tourane” - Vị trí Đà Nẵng, với dòng chú thích tiếng Pháp tạm dịch: “Bản đồ Đà Nẵng (do Liên quân Pháp - Tây Ban Nha - PV) tìm được trong nhà một ông quan (người Việt - PV) ngày 15-9-1859” mới phát hiện được trên mạng theo đường dẫn của thư khố Viện Viễn Đông Bác Cổ ở Paris. 

Nhà báo, nhà văn Hồ Trung Tú diễn giải: “Xem tấm bản đồ được vẽ một cách chi tiết với tỷ lệ chính xác một cách đáng ngạc nhiên, chúng ta không chỉ nhận ra lực lượng hai bên cùng những bố trí phòng tuyến, lũy hào, vị trí các đồn canh, trạm gác, mà khi đối chiếu với các nguồn sử liệu chúng ta ngạc nhiên nhận ra tấm bản đồ như còn mô tả được chi tiết những gì đã xảy ra trong những ngày tháng hào hùng và anh dũng này”.
Tuy nhiên, bản gốc của tấm bản đồ này vẫn chưa được giới sử học trong nước tiếp cận nên chưa thể khẳng định chắc chắn là do triều Nguyễn vẽ. Bởi lẽ, sự bao quát chính xác đến từng chi tiết của tấm bản đồ này khiến nhiều nhà nghiên cứu lịch sử nghi ngờ rất có thể tấm bản đồ này do người Pháp dùng khinh khí cầu để vẽ (!?).Nguồn gốc tấm bản đồ này vẫn là một “ẩn số” nhưng công trạng của Nguyễn Tri Phương trong những ngày đầu kháng Pháp tại Đà Nẵng đã được lịch sử lưu danh, một bằng chứng của sự anh dũng kiên cường của người Việt trước ngoại xâm.
 
Tượng đài Nguyễn Tri Phương và khẩu súng thần công của quân đội Triều Nguyễn 
những ngày đầu đánh Pháp tại Bảo tàng Đà Nẵng.

 
Nguyễn Tri Phương (Nguyên tên là Nguyễn Văn Chương) tự Hàm Trinh, hiệu Đường Xuyên, sinh ngày 21 tháng 7 năm Canh Thân, tức ngày 9 tháng 9 năm 1800. Quê quán thôn Chí Long (còn gọi là Đường Long nay là thôn Trung Thạnh), xã Phong Chương, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Tỉnh Thừa Thiên - Huế là quê cha đất tổ của Nguyễn Tri Phương, còn TP Đà Nẵng là nơi Nguyễn Tri Phương lưu danh thiên cổ về tài năng và nghệ thuật quân sự của mình. 

Suốt 52 năm làm quan, trải ba đời vua Nguyễn: Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Nguyễn Tri Phương luôn thể hiện tấm lòng trung quân ái quốc và ý chí chống giặc ngoại xâm. Bên cạnh đó, với tư tưởng canh tân đất nước, ông đã từng dâng lên triều đình nhà Nguyễn những kế sách để phát triển kinh tế, quốc phòng như việc mở đồn điền ở biên giới phía Tây Nam. Chủ trương mở các đồn điền ở biên giới phía Nam của ông không chỉ đơn thuần là phát triển kinh tế mà còn có ý nghĩa về mặt chiến lược quân sự. Ông là người có công lớn trong việc bình Xiêm, ổn định biên giới phía Nam; đánh dẹp các lực lượng thổ phỉ Trung Quốc ở các tỉnh phía Bắc; là vị tướng chỉ huy tối cao ở các mặt trận chống quân Tây dương xâm lược tại Đà Nẵng, Nam Kỳ và Hà Nội.
NGUỄN KHÔI
MỜI CÁC QUẾ THAM KHẢO

Thứ Hai, ngày 28 tháng 7 năm 2014

Nhớ tìm mộ bạn

Khảo tra vô hiệu chúng ngừng treo
Bạn đã dìu ta cuối trận hèo
Giọt nước thấm môi, can uống gáo
Mình xoa tai rỉ: thắng thêm keo.

Bạn căm tội ác thực dân gieo
Đường 9 ra đi gặp hiểm nghèo
Trận chiến nơi nào? Đâu dấu đất?
Ta tìm, đất giấu, lệ rơi theo.

Vũ Soạn
(Bài trích trong tập thơ "Một thời để nhớ")

Xứ sở và Danh tướng

       Nguyễn Tri Phương, cái tên trong quá khứ và hiện tại được đặt rất phổ biến, từ tên đường, tên trường đến chợ hoặc bệnh viện … Điều đó cho thấy sự trân trọng đối với một danh tướng đồng thời là liệt sỹ đã tuẫn tiết một cách kiêu hùng vì nước. Năm 1873, Garnier đánh úp thành Hà Nội. Nguyễn Tri Phương bị trọng thương. Ông được lính Pháp cứu chữa, nhưng ông khảng khái từ chối và nói rằng: "Bây giờ nếu ta chỉ gắng lay lắt mà sống, sao bằng thung dung chết về việc nghĩa”. Sau đó, ông tuyệt thực cho đến chết. Hồi nhỏ đọc đoạn sử này MF rất ấn tượng và kính phục một danh nhân khảng khái, hình ảnh của ông qua bài học tồn tại khá lâu trong tâm trí, dù MF kém về sử vì ngại học thuộc.
     Trên chặng đường rong chơi lang thang, MF thường gặp một số bạn mới mà kết một cách lạ, có lẽ bởi những ân tình đặc biệt và tính cách. Anh Nam và chị Hương là cặp vợ chồng gây ấn tượng với MF như thế, là bạn của bạn của MF, anh hài hước và sôi nổi, chị dịu hiền và bao dung. Hôm rồi nhân ra làm việc với Thành Cổ Quảng Trị, rủ anh chị cùng đi, ra thấy bộ đội đang dọn dẹp cỏ dại nơi Thành Cổ nhân ngày 27/7, anh nói: ngoài nhà anh cũng hên, vừa rồi nhân dịp này trên cho công an cơ động về dọn dẹp, cắt xén cây cỏ ở nhà thờ và lăng mộ cho ông Sơ nên cũng đỡ lắm! Ông nào? Nguyễn Tri Phương! Hic, rứa anh là Nguyễn Tri Nam? Phải! Cháu mấy đời? Ông nội anh là Nguyễn Tri Chí, con của Đồng Xuân Công Chúa (con vua Thiệu Trị, em vua Tự Đức) và phò mã Nguyễn Lâm, con của Nguyễn Tri Phương, người đã cùng cha tử thủ giữ thành Hà Nội và anh dũng hy sinh vì nước Việt. MF tự gõ đầu mình: sao mà vô tư đến vậy, không ngờ hương hồn của danh tướng không hề xa xôi như mình tưởng, cũng tự vì MF cứ lăm lăm việc ông tuẫn tiết khi giữ thành Hà Nội.
        Trong các đời vua Triều Nguyễn, MF yêu thích Minh Mạng và Tự Đức, vì nhiều lẽ. Nguyễn Tri Phương xuất thân gia đình làm nông và thợ mộc, nhưng cuộc đời ông không khoa bảng đỗ đạt mà lại làm nên danh giá, mưu lược tinh thông, từ quan văn thành võ tướng, khiến quân xâm lược ngoại bang khiếp nể, ông là một tướng triều giữ uy tín qua cả 3 đời vua từ Minh Mạng, Thiệu Trị tới Tự Đức, đặc biệt ông được Tự Đức yêu mến và tin dùng, và ông đã không phụ lòng vị Minh Quân có cuộc đời nhức nhối nhưng vô cùng yêu nước (như Người từng ghị nhận trong lăng bia của mình). Cha con ông đã được nhà vua trân trọng đưa về an táng và lập đền Trung Hiếu Tự để thờ tại làng quê Đường Long, xã Chánh Lộc, (mà nay gọi là làng Chí Long, xã Phong Chương) huyện Phong Điền của ông.
       Từ những tình cảm rất cá nhân này, mà MF nhân ngày 27/7 kéo vợ chồng anh Nam ra quê thăm đền thờ và thắp hương trên mộ những liệt sỹ kiêu hùng Nguyễn Tri Phương và Nguyễn Lâm. Cũng hơi nhức nhối vì từ “hên” của anh Nam, nghĩa là năm nay lần đầu đền thờ và mộ danh tướng được quan tâm vào ngày đền ơn đáp nghĩa như thế. Cũng nhờ đến mục sở thị di tích này mới thấy rằng: lẽ ra cần có một bảng hướng dẫn di tích trên đường vào miếu thờ. Còn lăng mộ thì nằm giữa đồng, nhưng trông đơn giản như là một tập hợp mộ thường dân, đương nhiên không cần thiết phải làm ầm ào, lòe loẹt như một số nơi, vì không đúng với nghĩa khí của cụ, nhưng để thể hiện sự trân trọng vị tướng hiếu trung, nên có những dấu hiệu gì đó, ví dụ như một tượng đài, hoặc một bản đá khắc ghi một đôi điều về con người và di tích nơi này. Trong khi có những người không làm chi cả thì thích ghi danh, mà cụ thì đã lừng danh như thế cơ mà?              

                               

                                     

                                                                      Trung Hiếu Tự
Xem thêm

Chủ Nhật, ngày 27 tháng 7 năm 2014

CHUYỆN NGÀY NÀY

     Nhìn blog Quế, thấy đã có mấy bài về ngày 27/7 nhưng tôi vẫn muốn góp thêm. Chuyện này biết bao nhiêu là đủ? 
   Năm ngoái, trong chuyến xuyên Việt, tôi ghé thăm nghĩa trang Trường Sơn và ngả ba Đồng Lộc. Khi thăm mộ 10 cô gái, tôi thật sự ấn tượng, mình cảm thấy như có luồng điện chạy dọc sống lưng, sởn cả da gà. Nhìn cách các mẹ, các chị nâng niu, chăm chút pha từng thau nước bồ kết gội đầu, lo từng chiếc gương, cái lược cho các cô mình mủi lòng quá. Họ đều hy sinh ở tuổi 20, thậm chí chưa từng biết yêu, tuổi thanh xuân đẹp nhất của đời người…
    Các chị, các mẹ đến thăm,ngày ngày vẫn "gội đầu" cho cô con gái cưng, người chị gái vẫn âu yếm "chải mái tóc thề" cho đứa em bé bỏng, sao mà xót xa như một lời nức nở. Ôi trái tim, tấm lòng của Bà mẹ Việt Nam... Không gian tâm linh huyền hoặc, đặc quánh,ngầy ngật khói hương, sự sống, cái chết đan xen, trộn lẫn, quện chặt vào nhau thật khó mà tách biệt. 
  Tôi điếng người khi thấy cảnh một bé gái đưa tay lên đầu, gỡ chiếc kẹp tóc màu hồng, đứa em trai cầm nửa gói ô mai, chúng khẽ khàng đặt lên mộ các cô. Tất cả diễn ra thật tự nhiên, thật giản dị, giản dị đến nao lòng. Các cô vẫn sống! “Có cái chết hóa thành bất tử” theo đúng nghĩa đen là thế này chăng? 
  . … Bữa nay, ba cô “em tôi” vứa làm mâm cơm cúng ông già. Ông đi B năm 63, vượt Trường Sơn vào đến Công Tum, khi vượt sông Sê San thì bị sa vào ổ phục kích của địch (theo lời kể của các đ/c cùng đoàn)…Giấy báo tử ghi là “hy sinh ở chiến trường Miền Nam”, không ngày mất, không địa danh cụ thể. Ban đầu gia đình lấy ngày báo tử làm ngày giỗ ông, sau này quyết định đổi sang ngày 27/7.      Nhờ sự hỗ trợ của các nhà ngoại cảm và quyết tâm của các con ông, trải qua 4-5 tháng trời lặn lội gian khổ ở vùng ngã ba Biên giới…họ đã tìm được hài cốt ông, đưa về nghĩa trang LS Thành phố...        Biết bao nhiêu thân phận, biết bao nhiêu cuộc đời…đúng như lời Gớt:“mỗi con người là cả một thế gian, dưới mỗi tấm bia đá chôn vùi cả một vũ trụ”. Đối với dân tộc mình, “chuyện nhà”, “chuyện nước” dường như không còn ranh giới nữa... 
  Đến đây tôi xin bật mí: ba cô “em tôi” đểu là HSMN (trong đó hai cô là dân Quế). Cô lớn nhất dám liều mạng gọi tôi là …ông xã kể cũng lạ!

Tượng đài kỷ niệm ở ngã ba Đồng Lộc
Hố bom nơi các cô đã hy sinh
Khu mộ các cô
Lúc nào cũng có những chậu nước bồ kết mới, nó thiêng liêng như
ngọn lửa vỉnh cửu ở nghĩa trang Hồng quân Liên xô
nhưng...thấm đẫm tình người hơn. Rất VN!
 
Mười chiếc gương cho mười cô gái trẻ...Bên trên là cảnh các cô lấp hố bom của
một nhà báo chụp cách vài giờ(!) trước khi các cô hy sinh.
Một tấm ảnh vô giá!
Ở đây vừa xây một cái tháp rất đồ sộ ,
nhiều tầng, giống kiểu hay xây ở các đình, chùa,
để tưởng niệm các liệt sĩ mà như quá nhỏ nhoi…so
với tượng đài trong lòng người đang sống.
Biết nói gì hơn, xin dâng tặng các cô mấy nhánh hoa dại bên đường...
Nhìn mấy chú bó nhởn nhơ gặm cỏ mình lại thảng thốt:
Nơi đây, bom đạn chồng lên bom đạn, biết bao nhiêu
mất mát ,hy sinh chỉ để đổi lấy cảnh thanh bình này-
Sự trường tồn cho đất Việt mãi xanh tươi.

HÌNH ẢNH CHA ANH CHÚNG TA TRONG QUÁ KHỨ
Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước
Mà lòng phơi phới dậy tương lai
                                                                 TỐ HỮU


"Lối xa xe chạy đường nghiêng núi
Khúc hát quân hành gió lượn theo
Tấp nập Trường Sơn chiều nắng cháy
Con đường ra trận tiếng quân reo"


Trường Sơn đông nắng tây mưa
Ai chưa đến đó như chưa rỏ mình
                                                                  TỐ HỮU

MỘT THỜI CHƯA XA



Cuộc kháng chiến chống Mỹ, có bao người thân của HSMN, Quế đã đổ máu, hy sinh, cũng có biết bao HSMN đã góp phần xương, máu cho ngày thống nhất.
“…những liệt sĩ anh hùng không quân Việt Nam là HSMN, lúc họ hy sinh còn rất trẻ. Có thể nói mỗi người là một bài ca hùng tráng, một thời đã làm xúc động bao trái tim. Đó là Võ Văn Mẫn, phi công lái máy bay chiến đấu MIC-21, quê Bến Tre; Phi công Nguyễn Văn Bảy (B), lái máy bay chiến đấu MIC-17, quê Cà Mau; Phi công Đồng Văn Đe, lái máy bay chiến đấu MIC-17 và MIC- 21, quê Bến Tre; Phi công Trần Thiện Lương lái máy bay chiến đấu MIC-21, quê Bến Tre; Phi công Nguyễn Văn Lung, lái máy bay chiến đấu MIC-21, quê Vĩnh Long; Phi công Trần Văn Mão, lái máy bay chiến đấu IL-28, quê Bến Tre; Phi công Nguyễn Quốc Hiền, lái mái máy bay chiến đấu IL-28, quê Bến Tre…và còn biết bao cán bộ, chiến sĩ vượt Trường Sơn vào chiến trường và vĩnh viễn nằm lại đó.”
“Lê Anh Xuân, quê Bến Tre, tập kết ra Bắc. Tốt nghiệp Khoa Sử - Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, tình nguyện vào chiến trường chiến đấu và sáng tác. Anh hy sinh ngày 24-5-1968 tại huyện Cần Giuộc, Long An, để lại nhiều bài thơ, nổi tiếng nhất là bài Dáng đứng Việt Nam”.Trích “Những hạt giống đỏ” http://daidoanket.vn/index.aspx?Menu=1501&Chitiet=75101&Style=1
Trong tờ lịch “Ban Liên lạc HSMN TP HCM” năm 2014, có tên các liệt sỹ là HSMN như: Phi công Trần Kỳ Sâm, sinh 1944, hy sinh 30/10/1967; Nghệ sỹ múa Phương Thảo sinh 1943, hy sinh 1967; Nhà văn – AH LLVTND Chu Cầm Phong sinh 1941, hy sinh 1971; …
“Sau Hiệp định Paris, ngoài bộ đội, nhiều đoàn cán bộ với nhiều ngành nghề khác cũng được đưa vào chi viện cho miền Nam giữ đất giành dân. Hồi đó rất ít Học sinh miền Nam được đi B, chỉ có Trí và vài người bạn Học sinh miền Nam của tôi lần lượt lên đường vào Nam chiến đấu: Đặng Ngọc Minh (Minh đét), Võ Dũng (con bác Sáu Dân), Nguyễn Chí Hiếu (con bác Bảy Dự), Bùi Sĩ Dũng (con bác Bùi Sĩ Hùng), Cao Hoài Chinh (con bác Cao Hoài Sại), Phan Văn Tánh (con bác Bảy Voi), Nguyễn Văn Bền (con bác Bảy Siêu)…, đều chỉ khoảng trên dưới 20 tuổi. Hai người đã nằm xuống trước ngày giải phóng: Võ Dũng và Đặng Ngọc Minh.
Lúc còn nhỏ Học sinh miền Nam đã khóc quá nhiều, nên khi về tới Sài Gòn tháng 6. 1975 nghe tin họ hy sinh tôi không khóc được. Lệ rơi chảy lại vào tim đắng, Kính mặn lung linh bóng bạn xưa.” Trích Blog http://trucnhatphi.wordpress.com/2008/10/ “Lãng thoại về Học sinh miền Nam – Nhớ Ung Ngọc Trí”

Nặc danh
“… Tiếp tục chủ trương tuyển chọn HSMN vào lực lượng Công an, khoảng giữa tháng 8/1964, Bộ Công an đã tuyển tiếp 120 học sinh phổ thông từ các trường HSMN trên khắp miền Bắc, trong đó có 20 HSMN là người các dân tộc anh em ở trường dân tộc nội trú, 10 học sinh phổ thông là người dân tộc Khmer. Chủ trương của Bộ đối với lớp HSMN lần này được thể hiện rõ qua tên gọi của lớp là D12, là hệ đào tạo cơ bản nói chung phục vụ cho “chiến lược trồng người” của Bộ. Lớp D12 được phiên chế thành 3 trung đội, trong đó có một trung đội là người dân tộc cùng một số anh em là người dân tộc Khmer. Lớp D12 cũng học chính trị và nghiệp vụ khoảng 1 năm.
Đầu tháng 9/1965, Bộ phân công anh em về Công an các địa phương ở miền Bắc làm việc. Riêng số anh em người dân tộc về sau Bộ điều động dần về các tỉnh Tây Nguyên, số anh em người dân tộc Khmer về chiến trường Campuchia chiến đấu và công tác. Sau đó, số anh em này hầu hết đã hy sinh...”.
Trích “Ký ức thiêng liêng về vườn ươm cán bộ Công an miền Nam trên đất Bắc” http://www.cand.com.vn/vi-VN/phongsu/2013/8/206490.cand
Xin cảm ơn tác giả của những tư liệu quý này và cũng xin cảm ơn bạn Quế 67-73 đã giới thiệu cho bantbe .

Có một nơi cho các anh yên nghỉ…

        
                 
       Nhân dịp 50 năm kỷ niệm ngày đồng khởi Cùa (Cam Lộ, Quảng Trị) thành công, cuộc đồng khởi này xuất phát từ đặc điểm tình hình, vùng Cùa, Cam Lộ được Tỉnh ủy quyết định chọn làm điểm khởi đầu phong trào đồng khởi nhằm thu hút địch, tạo điều kiện cho vùng giáp ranh và khắp các vùng đồng bằng nông thôn trong tỉnh vùng lên. Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Tỉnh ủy Quảng Trị, được sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang địa phương, đêm mồng 4 rạng ngày mồng 5 tháng 7 năm 1964, quần chúng nhân dân ở vùng Cùa tự trang bị các loại vũ khí đồng loạt vùng lên diệt ác phá kìm, lập nên chính quyền cách mạng. Phụ huynh lúc ấy là quyền bí thư TU trực tiếp chỉ đạo cuộc đồng khởi, nên Ban Tổ Chức mời, kèm theo MF tháp tùng.
    Trước khi vào lễ, các đại biểu, những cán bộ, chiến sỹ đã từng tham gia cuộc đồng khởi, và còn sống sót lại sau cuộc chiến, đã dự lễ khai mạc Đại Hồng Chung tại nghĩa trang và thăm mộ các AHLS. Đại Hồng Chung do con em xã Cam Chính đang sinh sống, công tác trên khắp mọi miền Tổ quốc và các cơ quan, doanh nghiệp đóng trên địa bàn đã đóng góp trong chương trình “Giọt đồng tình nghĩa” đúc nặng 600 kg.
     Nghĩa trang này nằm trong địa danh gọi là Cùa, là một địa danh thuộc 2 xã Cam Chính và Cam Nghĩa, nằm rất sâu trong phía tả đường 9. Và đường lên đó với một ngọn đèo xinh đẹp, cây cối bên bờ mọc xanh tươi, vùng Cùa nổi tiếng với những vườn chè và tiêu trù phú.
      Đến nghĩa trang, các cụ chống gậy lập cập ôm nhau mừng rỡ, còn MF lang thang trong nghĩa trang, ngắm nhìn và suy ngẫm. Nghĩa trang này có hơn 600 phần mộ của các anh hùng liệt sỹ, chia làm 2 phần, bên trái là các AHLS người quê tại Cam Chính, bên phải là các AHLS người địa phương khác và LS vô danh, mà giờ đây họ ghi là “liệt sỹ chưa biết tên”. Những nấm mồ nhỏ như long lanh sáng dưới ánh nắng hè buổi sáng. Những nấm mồ gọi là “có tên tuổi” cũng lạ lắm, có nấm chỉ có chữ “Hải”, có nấm chỉ có tên, không quê quán…Có đôi nấm có tên họ quê quán đầy đủ, có nấm có vẻ như được người nhà đến chăm sóc rất chu đáo, có làm lại bia quy củ hơn. Quê quán xa xôi, nhưng chắc chắn người nhà thấy rằng nghĩa trang này sẽ là nơi xứng đáng cho chàng trai, cô gái của gia đình lưu lại cùng linh hồn các đồng đội, nên họ không đưa về. Ở đây có quá nhiều mộ với tên gọi “liệt sỹ chưa biết tên”. MF đi lui đi tới, ngắm nhìn những cây huyết dụ nhỏ được địa phương chăm chút, nở hoa xinh xinh trước mộ, cảm thấy như các anh đang hé những nụ cười trẻ trung, những nụ cười của tuổi mười tám đôi mươi, mang đầy nhiệt huyết ra đi chiến đấu quên mình vì nước, họ đã thực sự quên mình. Ôi chiến tranh, ngươi đã làm gì, để những chàng trai cô gái, lẽ ra là một tương lai học đường rạng rỡ, một sự nghiệp nổi danh, một gia đình hạnh phúc, những đứa con xinh tươi… họ phải để lại những ước mộng đó, ra đi vì đời sau. Họ ra đi với không một dòng tên, một địa chỉ …



Những người còn lại ...
Dáng lưng còng này là mẹ hay là vợ?
   








Đại Hồng Chung từ nay sẽ ngân tiếng chuông vào ngàn thu cùng các anh.



Thứ Bảy, ngày 26 tháng 7 năm 2014

Kỷ niệm 67 năm ngày TBLS 27 tháng 7 (1947-2014)









Ảnh 1,2: Đêm Tượng đài NTLS Điện Bàn

Một nén hương cho các Liệt sĩ là bố mẹ Quế chúng ta nói riêng, một nén hương cho tất cả các Liệt sĩ đã hy sinh vì nền độc lập của dân tộc! 
Nhiều gia đình liệt sĩ trong đó có nhiều gia đình Quế không biết ngày mất của liệt sĩ đã lấy chính ngày 27 tháng 7 làm ngày giỗ hàng năm. Tôi có ngày giỗ Ba riêng nhưng dịp Lễ, Tết và nhất là ngày 27-7 anh chị em chúng tôi (trừ khi đi công tác xa)  thường về NTLS Điện Bàn thắp hương cho Ba tôi và các cô, chú, bác bạn Ba và các liệt sĩ yên nghỉ tại đây.  Năm nay cũng thế, cả nhà đang chuẩn bị đi NTLSĐB thắp hương thì tôi nhận điện thoại của Quế Siu Nam Tiến (CII DT) từ Buôn Ma Thuột (Quế SNT đã có dịp nói đến ở Bantbe rồi): Tao nhờ mày: về thắp hương ông già thì giúp tao thắp cho ông nén hương, cho cả Bắc "Bò" và Ba "Chột" nữa, "Chột' đang ở đây. Ông già  tao cũng như ông già Ba Chột may mắn hơn ông già mày và ông già Bắc Bò là còn trở về sau chiến tranh nhưng cũng thương tích đầy mình. Nhớ nhé! Nhớ rồi. Chiều nay bọn này về nhà Trang Quang Thành (Quế ĐLắc) thắp hương ông già nó, nó đang chuẩn bị cúng ông ở nhà!  Tôi hỏi SNT: Tao thay mày thắp hương ông già nhưng khấn thì tiếng Gia-rai, Ê-đê hay tiếng Kinh (SNT1/2 Gia-rai, 1/2 Kinh) Hắn bảo: Tao nghiêm túc. Tôi bảo :Tao cũng nghiêm túc.  Chắc tôi phải khấn: Ba ơi, nén hương này con thay bạn con  là SNT người Dt Gia- rai Tây Nguyên...Chắc là ở Suối vàng cụ cười tươi và sẽ phù hộ cho Siu bội thu trong các phi vụ Cafe... Ôi Quế là thế đó!
Hai năm trước, cũng vào ngày này, tôi nhận được điện thoại của một Quế nữ là PGĐ NH: Anh ơi, mộ ba anh ở vị trí nào trong NT, cơ quan em đang thắp nến cho các mộ trong NTLSĐB. Cụ nằm khu số 01 bên phải tượng đài từ ngoài vào, mộ số 09 hàng đầu. Tối tôi vào thắp hương ông cụ và các liệt sĩ, NTLS là cả một rừng hoa hồng và nến lung linh. Mỗi mộ liệt sĩ một bông hoa hồng, một ngọn nến. Riêng mộ ông già tôi: 2 ngọn nến và một bó hoa hồng to tướng. Ôi bạn Quế của tôi, lãnh đạo lại thiên vị người thân rồi! Ôi, Quế là thế đó! Ngay cả vấn đề tâm linh vẫn muốn bạn Quế phần hơn!
 Quế nào có bố mẹ là Liệt sĩ khi thắp hương thắp thêm cho cả Hội Quế (có TGTB) nén hương tưởng nhớ tới các cụ (tuy rằng bố mẹ nhiều Quế hy sinh khi còn rất trẻ, trẻ hơn Quế bây giờ)


Ảnh 3: Lạy Cha!



Ảnh 4: Báo cáo các Quế: Đã thắp hương chung cho các Liệt sĩ ở  Tượng đài NTLS Điện Bàn


Giải trí chút các Quế!

Hoa Quế

Quế Sài và Quế Huế đang rộn ràng ríu rít ở Huế.



Thứ Sáu, ngày 25 tháng 7 năm 2014


ĐÀ NẴNG SẮC MÀU HOÀNG HÔN