Hiển thị các bài đăng có nhãn cô Đàm Thị Ngọc Thơ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn cô Đàm Thị Ngọc Thơ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 8 tháng 5, 2015

19 THÁNG NĂM THƯƠNG NHỚ BÁC HÔ

Hồi ký – Đàm Thị Ngọc Thơ

Tôi học vào loại luôn giỏi, và chắc chắn tôi luôn trong diện xuất sắc các mặt hoạt động văn , thể, mỹ, các phong trào thi đua của trường. Nhưng chưa bao giờ tôi đủ tiêu chuẩn được chọn cử vào danh sách vào Phủ Chủ Tịch ăn Tết cổ truyền, Trung thu hoặc các dịp lễ, Tết lớn cùng với Bác Hồ như các bạn tôi. Dẫu sao những năm học ở miền Bắc tôi cũng đã có nhiều lần được gần bên Bác, thật gần, tưởng có thể ôm chầm lấy Bác, sờ được bộ râu đã lốm đốm bạc của Người. Những lần được gặp Bác đó thật hiếm hoi. Nhưng đó là thứ tài sản quý báu mà suốt đời tôi luôn cất giữ.
Còn nhớ cuối tháng 7 đầu tháng 8 năm 1955 tôi cùng nhiều bạn Trường HSMN số 4 và nhiều các bạn ở các Trường HSMN khác được tập trung về Hà Nội. Chúng tôi được thông báo công khai là tập dượt để diễu hành trong lễ kỷ niệm 10 năm Cách Mạng Tháng Tám và Quốc Khánh 2 tháng 9. Chúng tôi sẽ được thấy Bác Hồ trên lễ đài. Thật háo hức. Ngày nào chúng tôi cũng tâp đôị hình, đội ngũ cả hai buổi sáng sớm và chiều tối để tránh nắng. Mỗi buổi chỉ tập khoảng 2 tiếng đồng hồ. Đủ để mệt nhưng chúng tôi không thấy mệt. Chỉ nôn nao chờ ngày lễ mau tới, nôn nao được thấy Bác Hồ dù khoảng cách từ đường diễu hành đến chổ Bác đứng khá xa. Một tháng rồi cũng qua mau trong niềm khát khao chờ đợi của mọi người. Sáng 2 tháng 9 hôm ấy chúng tôi được thức dây rất sớm. Khoảng 4 giờ gì đó để còn vệ sinh, ăn sáng, vận trang phục để thầy, cô chấn chỉnh kịp 5 giờ ra chỗ tập trung theo quy định. Ở cái tuổi 13, 14, 15, tuổi ăn, tuổi ngủ, mà chúng tôi mặt ai cũng tỉnh queo, rạng ngời, háo hức. Ai cũng muốn mình thật chỉnh chu để ít ra không có lỗi khi được thấy Bác Hồ. Rồi cũng đến lúc đoàn chúng tôi diễu hành qua lễ đài, qua chỗ Bác và các lãnh đạo đứng trên kia. Hàng ngũ của chúng tôi cứ trôi dạt, trôi dạt về phía lễ đài nơi có Bác tưởng như không thể nào khác được. Chúng tôi đứa khóc, đứa cười trong niềm hạnh phúc vô biên. Hình như các bạn đều giống như tôi:lần đầu tiên được thấy Bác Hồ.
Những năm học ở Hải Phòng, chúng tôi thường được thấy Bác gần hơn thế. Bởi những năm ấy Bác thường đón khách nước ngoài sang ta bằng đường biển. Tàu cặp bến duy nhất là bến cảng Hải Phòng. Và các Trường nội trú HSMN đóng nơi Thành phố biển này đều được đứng hai bên đường làm hàng rào danh dự đón khách cùng với Bác. Bác thường đứng trên chiếc xe mui trần vẫy tay chào mọi người hai bên đường khi xe Bác đi qua. Bác luôn tươi cười trong vẻ giản dị, gần gũi, đáng yêu và đáng kính xiết bao. Vẫn bộ ka ki bạc màu chiến khu ấy, vẫn gương mặt hiền lành nặng trĩu lo âu việc dân, việc nước ấy, Bác luôn là người của muôn người. Tôi nhớ lần Bác đến thăm Trường HSMN số 4 của tôi. Lúc ấy đã trưa, chúng tôi chuẩn bị ăn cơm. Bỗng dưng thấy quanh nhà ăn có những người lạ mặt, không phải cô chú ở trường, họ cũng không trò chuyện với ai. Chỉ nhìn chúng tôi bằng cập mắt dò la, quan sát. Rồi bỗng dưng tôi thấy mấy người đi từ phía khu vực vệ sinh của trường tiến về phía nhà ăn. Trong đó có một ông tuổi cũng đã cao trong bộ đồ nâu sồng. Bên cạch ông là thầy Hiệu Trưởng của chúng tôi-chúng tôi vẫn gọi bác Hai Thế. Đoàn khách vừa đến nhà ăn, bác Hai chưa kịp nói gì thì nhiều bạn tôi đã nhận ra Bác Hồ và tiếng hò reo vút lên vang dậy: Bác Hồ, Bác Hồ, Bác Hồ ... Các bạn ôm chầm lấy Bác, vây quanh Bác, xô ngã cả các bàn ăn. Phải rất lâu các chú đi theo bảo vệ Bác mới ổn định được trật tự. Không cần tập trung, không cần hàng ngũ. Chúng tôi đứng quây quần bên Bác gần 400 học sinh của trường. Rồi cứ thế Bác dạy bảo chúng tôi, dặn dò chúng tôi hãy cố gắng học tập cho Miền Nam, vì Miền Nam. Bác phát cho chúng tôi những chiếc kẹo. Đó là món quà vô cùng quý giá chúng tôi đã không ăn, tính cất kỹ để khi về Miền Nam khoe với mọi người.
Những năm học Đại học ở Hà Nội tôi vẫn thường được chọn ra sân bay Gia Lâm làm hàng rào danh dự cho Bác đón khách nước ngoài. Chúng tôi được đứng ở đoạn gần cửa sân bay nên rất gần nơi Bác đi qua. Dù gần, dù xa với chúng tôi đó luôn là niềm vinh hạnh. Bởi những người đứng ở những nơi xung yếu đó đều được lựa chọn rất kỹ về mặt lý lịch. Tôi nhớ nhất lần tôi được cử làm hàng rào danh dự đón Bác Hồ khi Bác đưa Tổng Thống Nê Ru –Tổng Thống Ấn Độ cùng phu nhân đến thăm Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội. Đó là năm 1963. Tôi lúc đó là sinh viên Văn khoa năm thứ hai và trong đội cờ đỏ của trường. Tôi chỉ được thông báo chuẩn bị đón khách quan trọng vào ngày đó, giờ đó, ăn bận như thế đó và vị trí của tôi là chỗ đó. Hôm đó, đúng 7 giờ sáng các nam sinh, nữ sinh của trường ăn mặc đẹp, tay cầm cờ hoa đứng hai hàng từ cổng trường vào thẳng cửa Hội trường. Tôi được bố trí ngay bậc tam cấp bước lên hội trường. Nghĩa là sát bên khách. Nơi cổng trường đã vang tiếng hò reo khi ba, bốn chiếc xe du lịch dừng lại. Bác và những người khách nước ngoài tiến vào Hội trường giữa hai hàng cờ hoa. Hôm đó, lần đầu tiên tôi thấy Bác ăn mặc đẹp:Một bộ kaki màu sáng và hãy còn mới. Tự dưng tôi thấy trong lòng rất vui. Khi Bác và khách bước lên các bậc tam cấp để vào Hội trường tôi thấy Bác lùi lại sau Tổng thống có ý nhường khách đi trước. Và chính tay Bác đã nâng chiếc váy khá dài của bà Tổng Thống phu nhân lên để bà ấy khỏi bị ngã. Lúc ấy tôi còn quá trẻ để hiểu rằng Bác Hồ của chúng ta là như thế đó:Luôn quan tâm, săn sóc, chăm lo cho mọi người. Phải rất nhiều năm sau tôi mới ngộ ra điều đó và càng yêu kính vô cùng Bác Hồ vĩ đại của chúng ta. Bác vĩ đại trong mọi tình huống mà không phải lúc nào ta cũng kịp nhận ra. Nhân chi tiết này tôi xin kể bạn nghe câu chuyện vui về sự nhạy cảm của Bác:”Năm đó Bác về thăm quê. Sau cuộc trò chuyện Bác hỏi:Bà con ta có cần chi không? Bà con đồng thanh đáp: Chúng tôi nỏ cần chi! (Nỏ tiếng Nghệ An là Không). Những người đi với Bác vỗ tay thật lớn. Riêng Bác rút khăn ra lau nước mắt. Bác nghĩ:”Nỏ cần chi” là ”Chỉ cần no”. Có nghĩa là ở quê Bác còn chưa đủ ăn. Phải những bậc có cái tầm và cái tâm xuất chúng mới hiểu được những điều sâu sắc ấy.
Năm 1969 Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã đi xa. Hồi đó mãi sáng ngày 3 tháng 9 chúng ta mới công bố tin Bác mất. Sáng hôm đó tôi lên lớp sớm hơn mọi ngày và các em học sinh của tôi sau thông báo cũng đến lớp sớm hơn mọi khi. Tôi chỉ kịp ghi lên bảng dòng chữ: hôm nay 6 giờ 39 phút Bác Hồ của chúng ta qua đời. Rồi cô trò khóc lặng bên nhau. Hôm đó không có buổi học. Cả trường chúng tôi theo lệnh của Ủy Ban tập trung chuẩn bị làm lễ truy điệu Bác. Liên tiếp những ngày sau đó chúng tôi như có “Khai”mà không có”Giảng”. Bởi toàn bộ tâm trí bận dõi theo những ngày bà con khắp nơi trên nửa nước yêu thương khóc Bác Hồ và dõi theo lễ truy điệu Bác Hồ tại Hà Nội. Rồi qua radio chúng tôi dõi theo đồng bào Miền Nam thương, khóc Bác Hồ, dựng lên những đền thờ Bác ở chiến khu và cả ngay trong vùng địch chiếm đóng.
Đã 46 năm trôi qua kể từ ngày Bác mất. Nhưng trong lòng mỗi người dân yêu nước chúng ta Bác vẫn còn đó vẹn nguyên, tinh khôi như những ngày nào. Bởi chúng ta luôn vô cùng kính yêu Bác Hồ vĩ đại của chúng ta.

Thứ Bảy, 18 tháng 4, 2015

ĐÊM YÊN SINH


Hồi ký- Đàm thị Ngọc Thơ

    Hồi đó tôi đã không tìm hiểu xem những tên gọi:Yên Sinh, Yên Tử, Kim Mã, Côn Sơn. . . trên vùng cánh cung Đông Triều này có tự bao giờ và dấu ấn lịch sử trong lòng của nó. Khi tôi về đây học cấp Trung học tại Trường nội trú HSMN Đông Triều thì vết tích của một vùng Thánh địa xưa cuả vua chúa thời Trần vẫn còn in dấu. Những bức tường thành đấp đất dầy kèm hàng tre còn hiển hiện tuy bờ đất còn vài tấc chân. Những đường tre, trúc vẫn cứ miệt mài sinh sôi, nảy nở như muốn muôn đời bảo bọc chân tường, bảo bọc những di tích lịch sử còn lại. Khu Côn Sơn cách Yên Sinh không xa. Đây là nơi Nguyễn Trãi –một thi nhân, một anh hùng dân tộc về đây ở ẩn. Và cũng chính ở nơi này ông gánh chịu vụ án Lệ Chi Viên. Côn Sơn lâu nay đã là khu di tích lịch sử. 

   Trường HSMN chúng tôi tọa lạc trên khu đồi Yên Sinh. Mõm đồi được sang bằng tạo dựng thành một sân trường rộng, được trồng những hàng thông làm cây che bóng mát để sinh hoạt. Xung quanh sân trường là những dãy nhà giành cho Ban giám hiệu, các phòng sinh hoạt Đoàn, Đội và chủ yếu là các dãy phòng học. Khu nhà ở của các nam nữ học sinh nằm hai bên triền đồi. Khu nhà của Thầy, Cô được xếp phía sau cho tiện sinh hoạt gia đình. Và sau nữa là con suối nhỏ lượn lờ chảy quanh đẹp đẽ, nên thơ. Xa xa dãy núi Đông Triều sừng sững bao bọc chở che cho Yên Sinh. Trước mặt trường là con đường đất đỏ chạy thẳng ra chợ Huyện Đông Triều. Con đường này và kể cả khu trường do các anh chị lớn tuổi, học những năm trước chúng tôi mở ra. 

   Những năm tôi học trường nội trú HSMN và kể cả sau này tôi quay lại trường dạy các em thế hệ vượt Trường Sơn chúng tôi đều rất bận. Nghĩa là nhà trường không để cho chúng tôi có thời gian rỗi, để chúng tôi không phải nhớ nhà, phân tâm việc học. 

   Tết Mậu thân 1968-thời điểm quyết liệt quân dân ta tấn công Mỹ, Ngụy giải phóng Miền Nam đi qua trong máu, lửa, hy sinh. Nhưng không một ai trong chúng tôi nao lòng. Chúng tôi vẫn kiên tâm chờ mong ngày thống nhất. Mẹ-Quê hương là tất cả cuộc đời, tất cả tình yêu trong mỗi chúng tôi. Ai đã từng xa nhà như chúng tôi mới có thể nhận ra điều đó. 

   Rồi những năm giặc Mỹ leo thang bắn phá ác liệt Miền Bắc. Chúng nhầm tưởng sẽ tiêu diệt được ý chí đấu tranh giải phóng Đất Nước của dân tộc ta. Nào ngờ, như lửa đổ thêm dầu, những trái tim yêu nước trên cả hai miền Nam Bắc càng sục sôi ý chí căm thù và chiến đấu giải phóng non sông, Thống nhất nước nhà. 

   Mùa xuân 1975 đã là mùa xuân lịch sử của dân tộc ta. Mỗi người dân Việt Nam có quyền khắc sâu vào trái tim mình niềm hãnh diện vô biên của người chiến thắng. Đầu tiên ta lần lượt giải phóng các tỉnh miền Trung. Khí thế xông lên, xốc tới của quân dân ta thật tuyệt vời. Đó cũng là những ngày luôn náo loạn ở trường tôi. Bởi nơi nào ở miền trung ấy cũng có học sinh của tôi. Với chúng tôi, nơi nào cũng là Quê hương, Tổ quốc . 

   Tôi còn nhớ ngày 26/3 là ngày giải phóng Thừa Thiên-Huế. Ngày 29/3 là ngày giải phóng Đà Nẵng. Và bỗng dưng chiến sự chựng lại rất lâu. Chúng tôi vô cùng nôn nóng và bối rối. Có lẽ nào? Có lẽ nào ta chỉ nhích được vĩ tuyến vào trong? KHông thể và không thế được. Và cái điều không thể ấy lịch sử không để xảy ra. 

   Đêm 29 rạng ngày 30 tháng 4 năm ấy Năm 1975 chúng ta tấn công vào Sài Gòn kết thúc cuộc chiến 21 năm trời Bắc Nam chia cắt đôi miền. 11h30 ta chiếm lĩnh toàn bộ những nơi xung yếu, tiến thẳng vào Dinh Độc lặp cắm lá cờ đỏ sao vàng thân yêu lên đỉnh Dinh khẳng định chủ quyền Đất Nước. Mãi đến 16h30 trường tôi mới nhận được tin qua Đài tiếng nói Việt Nam. 

“Giải phóng Sài Gòn rồi!”

“Giải phóng Miền Nam rồi!”

   Vang dậy khắp trường là tiếng hô, tiếng hét, tiếng khóc, tiếng cười. Trên gương mặt cả cô lẵn trò ràng rụa nước mắt sướng vui. Bắt đầu từ giờ phút ấy chúng tôi không có bữ cơm chiều và lập tức bắt đầu “Đêm không ngủ”. Các em học sinh đổ hết cơm canh ra bàn để lấy nồi tô nhôm đập cho vang dậy mừng chiến thăng. Rồi hát, rồi hò. Kể cả các cô chú cấp dưỡng, tiếp liệu chưa từng hò hát cũng bá vai nhau hát lạc cả tiếng. Đêm hôm đó và nhiều đêm sau nữa, chúng tôi làm náo loạn cả Yên Sinh. Không thể ngồi yên để dạy để học. Chỉ có một sự phấn khích và háo hức mong được sớm trở về May mà đã cuối tháng tư. Năm học cũng vừa kết thúc. 

   Sau đó không lâu chúng tôi được phân công lần lượt đưa các em về quê. Háo hức là vậy nhưng những phút giây rời xa Đông Triều, rời xa Miền Bắc sâu nặng nghĩa tình trong lòng chúng tôi đều lung linh nỗi nhớ. Thế mới biết thế nào là:

   Khi ta ở chỉ là nơi đất ở, 

   Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn”



Thứ Tư, 15 tháng 4, 2015

HÃY NGHIÊNG MÌNH TRƯỚC MỖI PHÚT GIÂY TA SỐNG (TT)

Ký – ĐÀM THỊ NGỌC THƠ

3. HÃY NGHIÊNG MÌNH TRƯỚC MỖI PHÚT GIÂY HÔM NAY TA SỐNG

Tôi đã từng thắp những nén nhang nơi nhà thờ các liệt sĩ nơi Bến Dược - Củ Chi. Tôi không biết phải để bao nhiêu thời gian để đọc hết các tên tuổi các liệt sĩ nơi ấy. Tôi chỉ biết trái tim tôi uất nghẹn, nước mắt trào dâng khi lướt nhìn dãy,  dãy các tên anh!
       Tuy chưa đến nhưng tôi đã từng được ngắm nhìn hàng hàng, lớp lớp những ngôi mồ liệt sĩ trong nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn-những ngôi mồ có tên và không tên tuổi đang xếp hàng ngay ngắn.
        Đó là chưa kể không biết bao nhiêu những nghĩa trang liệt sĩ ở các Huyện, Thành phố, các Tỉnh trên Đất nước Việt Nam hình chữ S này.
        Đất Mẹ Việt Nam ôm chặt vào lòng những đứa con hãy còn rất trẻ. Họ đi hỏi tội chiến tranh và để kết thúc chiến tranh. Họ đi đòi nợ máu-dòng máu Việt Nam anh hùng vẫn chưa ngừng chảy. Cả nước hành quân. Cả nước lên đường giành lại thống nhất giang sơn, giành lại bình yên cho Tổ quốc.
        Thanh niên lên đường nhập ngũ. Họ tình nguyện cầm súng chống trả kẻ thù đang bắn vào đồng bào của họ. Học sinh gác bút nghiên háo hức hướng về tiền tuyến. Họ sẵn sàng cầm cuốc, cầm xẻng lấp hố bom mở đường cho những đoàn xe, đoàn người ra trận. Những văn nghệ sĩ, nhà báo, giáo viên .  .  . Tất cả cho miền Nam, tất cả trên trận tuyến chống quân thù. Kể sao hết những người mẹ trên đất nước Việt Nam này đã hy sinh không chỉ một mà rất nhiều những người con cho cuộc chiến. Họ đã làm nên lịch sử. Họ đã thắm tô thêm màu cờ Tổ Quốc. Họ đã để lại những phút giây yên bình mà ta sống hôm nay. Dòng máu anh hùng đó vẫn luôn sục sôi trong lòng lớp trẻ hôm nay. Đúng như vị lãnh tụ kính yêu-Bác Hồ Chí Minh từng nói:’’Nó sẵn sàng nhấn chìm lũ cướp nước và bán nước’’
          Hãy ngắm nhìn kia khi những chiếc tàu của những kẻ lạ dã man xịt vòi nước vào những chiếc tàu làm ăn lương thiện của dân ta ngoài biển thì lớp trẻ Việt Nam phản ứng ra sao. Và những người chiến sĩ bảo vệ biển Việt Nam trả lời thế nào. Như những hòn than vùi sâu trong tro, lòng yêu nước khi cần khơi dậy nó bùng lên thành lửa đỏ. Dân tộc Việt Nam là thế đó. Bè lũ xâm lược hãy coi chừng. Ở Đất nước này ai cũng biết xả thân vì nghĩa lớn, ai cũng biết hy sinh.
          Thật thiêng liêng là những người đã ngã xuống cho chúng ta hôm nay. Ở đâu trên mảnh đất này đâu đâu cũng đều thắm máu hy sinh của những người con dân tộc. Nên bạn ơi! Hãy khẽ thôi! Hãy biết nghiêng mình trong mỗi phút giây ta sống. Để những người ra đi được yên lòng khi họ cảm nhận được rằng họ đã xứng đáng với sự hy sinh.

         

HÃY NGHIÊNG MÌNH TRƯỚC MỖI PHÚT GIÂY TA SỐNG (TT)

Ký – ĐÀM THỊ NGỌC THƠ

2. Khát vọng

Mỗi khi Đất Nước có chiến tranh thì lớp lớp những người con của Đất nước ra trận. Hình ảnh Trần Quốc Toản bóp nát trái cam, hình ảnh của những Kim Đồng, những Lê văn Tám là những hình ảnh sáng ngời của lòng nồng nàn yêu nước ấy.  
        Sau chiến thắng Điện Biên lịch sử, có rất nhiều con em cán bộ Miền Nam tập kết ra Bắc theo chủ trương của Đảng và Bác Hồ là đào tạo cán bộ có trình độ cho Miền Nam.
         Nhưng ngày giải phóng Miền Nam cứ dài ra, không phải hai năm mà ba, bốn, năm và dài ra mãi …  Những luật 10/59 của kẻ thù kéo lê máy chém giết hại cán bộ Cách mạng của ta. Rồi vụ giết hàng ngàn cán bộ Cách mạng trong trại giam Phú lợi. Những vụ thảm sát tàn độc ở Vĩnh Trinh,  Ngân Sơn,  Hướng Điền, Sơn Mỹ…  làm cháy lòng chúng tôi. Những đêm cùng nhau thức trắng hướng về Nam. Những lần cùng nhau ghi tên tình nguyện về Nam chiến đấu cứ liên tục. Máu chảy ở quê nhà thúc dục lòng những đứa con xa. Chúng tôi tìm đủ mọi cơ hội, len lỏi vào đủ mọi danh sách có thể để chỉ được lọt về Nam làm bất cứ việc gì. Cho mãi đến khi chúng tôi tốt nghiệp Đại học. Nhiều bạn tôi đã được lái máy bay dũng cảm nhắm thẳng vào kẻ thù nã đạn.  Như Đồng Văn Đe, như Sâm Kỳ, như Nguyễn Văn Bảy(B). Nguyễn Văn Bảy(B) đang nằm ở nghĩa trang liệt sĩ Tỉnh Cà Mau. Lê Anh Xuân, Chu Cẩm Phong cầm bút viết văn, làm thơ, làm nhạc nơi chiến trường lửa đỏ và làm nên “Dáng đứng Việt Nam”. Có cả những học sinh của tôi đã vượt Trường Sơn ra Bắc học rồi trở về Nam chiến đấu hy sinh như Phương Thảo …  Đội ngũ HSMN trở về Nam sau Đại học theo chủ trương đào tạo cho Miền Nam không sao kể hết và không có lĩnh vực nào là không có. Từ giáo dục,  y tế, công nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng… Nhiều bạn tôi trên đường về hoặc đi công tác cũng đã bị địch bắt giam cầm tra tấn đày ra Côn Đảo. Thế mới biết Đất Nước này không của riêng ai, nỗi đau này không của riêng ai và trách nhiệm giải phóng Miền Nam là trách nhiệm của toàn dân tộc.  
       Ở Cà Mau chúng tôi có các bạn Hữu Liêm, Hữu Thành, Quách Tâm, Bê, Lãm ra đi mang theo lòng mình những cánh rừng ngập mặn nơi chót mũi Cà Mau. Tốt nghiệp Đại học các bạn về lại Miền nam trước giải phóng và đã làm nên chuyện cho quê hương mình. Đó là việc quy hoạch lại những cánh rừng ngập mặn, mở những trường hướng nghiệp nông lâm. Là việc bạn Liễu thuần dưỡng loài trăn, tạo sân chim giữa lòng thành phố, làm nên nhà sàn Bác Hồ nơi mảnh đất cuối trời. Ta có bác sĩ Long, bác sĩ Danh Mai, bác sĩ Lễ là HSMN. Ngành công nghiệp có Dương văn Ẩn, Nguyễn Năm, nghành giáo dục có Trung Việt, cô Đào, Cô Ngọc Nhãn …  Tôi cũng đã từng theo các bạn, từng len lõi vào các danh sách đi B. Tôi cũng đã từng ghi tên vào lớp  đào tạo phóng viên ngắn hạn sáu tháng cho Miền Nam. Tôi cũng đã từng bỏ Đại học tổng hợp xin qua Sư phạm để được nhanh chóng về Nam. Nhưng số tôi không may. Vào đội ngũ nào tôi cũng bị gạt lại. Sau 30/4 chú Dương Tấn Phát Cục quản lý HSMN vội vả cử tôi đưa các em HSMN là Nam bộ về. Chú nói:  Con cứ về rồi ở luôn trong đó. Giấy tờ thuyên chuyển chú sẽ gởi về cho con. Trời đất! Vậy là bấy lâu nay tôi bị giam lỏng mà không hay. Chú là bạn chiến đấu của ba tôi thời chống Pháp: Cùng là huyện ủy viên Huyện Hồng Dân những năm 47-54.

     Giờ này chắc chú và Ba đang hàn huyên dưới đó mừng ngày Thống nhất nước nhà. Riêng tôi vẫn luôn chạnh lòng vì khát vọng không thành- cái khát vọng muốn được góp chút lửa vào đám cháy lớn - Giải phóng Miền Nam, thống nhất nước nhà. 

HÃY NGHIÊNG MÌNH TRƯỚC MỖI PHÚT GIÂY TA SỐNG

Ký – ĐÀM THỊ NGỌC THƠ

1. Chung vai gánh vác non sông


    Tôi vẫn hiểu: Vĩ tuyến 17- ranh giới tạm thời chia hai miền Đất nước chỉ là để khoanh vùng tập kết cho lực lượng hai bên. Còn cái nghĩa Đất nước luôn trọn vẹn và thiêng liêng trong tất cả mọi tấm lòng của người dân Nam Việt. Bởi lẽ đó mà ngay sau khi hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, ngay sau khi người Miền Nam đầu tiên tập kết đặt chân ra đất Bắc, nhân dân miền Bắc đã vội vã đùm bọc cưu mang.  Họ coi đó là sứ mệnh lịch sử thiêng liêng, là tình cảm yêu thương, trách nhiệm.
     Tôi còn nhớ ngày tàu tôi cập bến Sầm Sơn, nhân dân Thanh Hóa đứng đông nghịt trên bến tàu hân hoan chào đón. Rồi chúng tôi được nhanh chóng đưa về các dãy lán trại đã trải sẵn ổ rơm với đầy đủ áo,  mền chống cái rét chưa quen nơi đất Bắc. Trong khi miền Bắc vừa thoát khỏi chiến tranh, nhân dân miền Bắc còn đói khát trăm bề. Tuần lễ nghĩ dưỡng ở đây, ngày ba bữa chúng tôi được ăn uống no đủ để phục hồi sức khỏe sau chuyến vượt biển. Lúc ấy chúng tôi chưa biết được những cố gắng vượt bậc của Đảng, Bác Hồ và nhân dân miền Bắc cho đồng bào miền Nam tập kết cũng như cho cuộc đấu tranh chính trị vì miền Nam, vì cả nước. Mãi đến khi chúng tôi được chia về các xã gần đó của huyện Nông  Cống chờ ngày chuyển giao về cho các trường nội trú chúng tôi mới được nhìn rõ những chịu đựng,  những xẻ chia đến tận cùng của miền Bắc cho nửa khúc ruột yêu thương.
     Hãy bắt đầu từ những bữa cơm của chúng tôi - những bữa cơm nuốt nghẹn ngào qua nước mắt. Không phải vì cơm không đủ no, thiếu cái để nuốt trôi cơm vào bụng,  mà vì chúng tôi ăn cơm trong một cái lán che tạm nhưng được vây kín bằng một hàng rào dây thép gai. Bên ngoài là những em bé độ tuổi lên 6 lên 8 trần truồng giữa cái rét cắt thịt da của tháng 12. Trên tay một vài em cầm những cọng dây khoai lang đã héo. Đôi mắt các em thèm thuồng nhìn về phía chúng tôi. Các em không dám xin mà chúng tôi cũng không được phép cho dù chỉ một vài muỗng cho đỡ thèm. Thanh Hóa những ngày đó chưa kịp làm lại điều gì sau chiến tranh lại vội vã trực tiếp gánh vác sứ mệnh lịch sử nặng nề:đón tiếp mấy chục ngàn cán bộ, bộ đội, HSMN tập kết ra Bắc!
     Đâu phải cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xăm lược và bè lũ tay sai bán nước những ngày lịch sử đó là của đồng bào miền Nam? Sau những năm miền Bắc âm thầm chi viện sức của cho miền Nam đấu tranh theo hiệp định, bọn giặc bội ước,  xé nát hiệp định Giơ-ne-vơ, cả nước ta rầm rập lên đường ”Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu Nước”. Đếm sao hết những người mẹ trên đất Bắc dõi vào Nam ngóng theo bước chân con. Đếm sao hết những người vợ trẻ trên đất Bắc ngóng trông chồng từng đêm không ngủ. Rồi vì nửa nước yêu thương, vì miền Nam ruột thịt họ tiếp bước lên đường vào với chiến trường xa không ngại gian nan vất vả, sá chi cái chết rập rình. Đếm sao hết những nấm mồ liệt sĩ đã hy sinh trên chiến trường miền Nam, bao nhiêu ngôi mồ có tên và vô danh nằm hiu hắt đó đây mà đồng đội, thân nhân còn chưa nhận diện. Sẽ thật tội lỗi khi ta chỉ nhớ đến niềm vui của những người miền Nam tập kết, giải phóng miền Nam được sum họp gia đình mà quên mất niềm vui đến tột cùng của nửa nước yêu thương-nơi đất Bắc đang chờ đón tin con.  
      Thoáng một cái đã tròn 40 năm kể từ ngày giải phóng. Mẹ nuôi tôi, người Hà Nội mới vừa tìm được mộ con trai hy sinh ở mặt trận Khe Sanh. Tìm được hài cốt con trai về mẹ không cho hạ huyệt. Mẹ bảo chờ vài hôm nữa đến giỗ anh ấy rồi hẳn hạ huyệt. Năm rồi cúng cơm em nhà tề tựu không thiếu một ai. Cúng cơm em hôm trước, hôm sau mẹ xuôi tay nhắm mắt hưởng thọ 94 tuổi. Chúng tôi đành dời ngày truy điệu hạ huyệt cho em vào đầu năm sau cho thuận lẽ trời,  hạp lòng mẹ.
      Chiến tranh là thế: Nó đã lùi xa nhưng vẫn còn cất giữ trong nó biết bao điều bí ẩn!
    
                                                                   Cà Mau, ngày 08 tháng 04 năm 2015

                                                                                Đàm Thị Ngọc Thơ

Thứ Sáu, 20 tháng 6, 2014

Cô muốn nói với các em rằng ...

                                  (Bài phát biểu của cô Đàm Thị Ngọc Thơ trong buổi họp mặt HSMN Đông                                       Triều lớp 9, 10 niên khóa 1974-1975 ngày 18/5/2014 tại Đà Nẵng)

       Kính thưa quý đại biểu là khách mời
       Kính thưa quý thầy cô công tác và giảng dạy tại trường HSMN Đông Triều
       Các em học sinh các khóa có mặt hôm nay thân mến!
   Cách đây 2 tháng tôi có dịp về đây dự họp mặt với các em khóa 1974. Hôm nay từ Cà Mau đất mũi xa xôi, nơi tận cùng đất nước tôi lại về đây họp mặt với quý thầy cô giáo và các học sinh thân yêu của mình. Bởi đến với các em là đến với chính cuộc đời mình, đến với yêu thương và nỗi nhớ, đến với muôn vàn kỷ niệm một thời và không thể nào quên.

Chủ Nhật, 27 tháng 10, 2013

Các Quế coi nè!

Trang http://bantroi5.blogspot.com/2013/10/tin-nhan-tu-ca-mau.html#more
Được đăng bởi TranKienQuoc vào lúc 12:15

Tin nhắn từ Cà Mau


Hôm qua, sáng sớm nhận được tin nhắn của cô Đàm Thơ:
Tháng Mười đã cảm nhận rét
Hình như mùa Đông đến gần
Mây trời chắc bay lơ lửng
Rất gần có phải không em?

Mình nhắn lại:
Hà Nội mới se se lạnh,
Trời Thu vẫn xanh, rất xanh.
Hà Nội nhớ cô lắm đó,
Bao giờ ta lại gặp mình?

Cô ơi, hãy luôn khỏe nhé,
Để mình thỉnh thoảng gặp nhau.
Cứ gặp là vui như Tết,
Dù Hà Nội hay Cà Mau.

Cô lại trả lời:
Em cứ yên tâm đi nhé,
Cô sẽ cố gắng giữ gìn
Sao cho lúc nào cũng khỏe
Để ra vui với các em.

Sang năm có hai cái hẹn:
- Giỗ đầu bà mẹ nuôi cô
- Học sinh Miền Nam họp mặt,
Cô đang sốt ruột ngóng chờ.

Hẹn nhau sang năm em nhé,
Cô trò lại vui nổ trời,
Chỉ cần nghĩ đến ngày đó ,
Là tim muốn nhảy lên thôi.

Và lần này nhờ Báo liếp gửi tin nhắn trả lời:
Chúng em cũng thế, cô ơi,
Bọn nó cứ nhắc cô suốt,
Dù mới gặp mấy bữa thôi,
Mà thân như chị em ruột.

Lính Trỗi Hà Nội nhớ cô,
Ngày nào chả vào Báo liếp,
Để tìm đọc bài của cô,
Nhưng lâu chưa thấy cô viết?

Cô luôn vui khoẻ, nha cô.
Cứ thế, đời vui, cứ thế.
Và mình hẹn nhau cô nhé,
Sang năm gặp ở Bờ Hồ.

HN, 26/10/2013

Thứ Ba, 27 tháng 8, 2013

“CHUYỆN KỂ TRƯỚC LÚC O GIỜ“ (ST: Đàm Thơ)

Các bạn già thân mến !
Trong cái tuổi gọi là già của chúng ta,thỉnh thoảng đó đây còn đọng lại những câu chuyện tình ngộ nghĩnh.Nó làm chúng ta bất ngờ sống lại một thời tuổi nhỏ đáng yêu.Nó khiến hồn ta thăng hoa,rạo rực như ngày nào ta bước vào thuở yêu đương, hò hẹn.Câu chuyện sau đây là vậy.Xin kể tặng bạn như tặng một nốt nhạc trẻ thêm vào bản nhạc cuộc đời.Chuyện là vầy:
Hôm ấy gần tết.Bà lão bỗng nhận được cú điện thoại của một người đàn ông lạ:
- A lô ! Có phải bà N.N.H.N. đó không ạ ?
- Phải rồi ! Ai đó,có gì không?
- À,tôi biết bà chớ bà không biết tôi là ai đâu.Hồi đó,khi chúng ta thi chuyển từ cấp 1 sang cấp 2 ta thi cùng phòng và tôi được vinh hạnh ngồi cùng bàn với bà.Nhưng đã không dám làm quen.Hơn 60 năm rồi đó,hình ảnh bà vẫn in đậm trong tôi.Tôi luôn dõi theo và cố tình tìm kiếm nhưng đã không có thể.Chiến tranh liên miên,trường lớp di dời,tôi để lạc mất bà trong nhiều nuối tiếc.Gần đây tôi đọc được quyển sách viết về “Một thời để nhớ” thấy tên bà và đã tìm về ban biên tập mới có được số điện thoại của bà đây.Thật may mắn.
Nghe cũng hay,cứ như là tiểu thuyết ấy- bà lão nghĩ.Đầu dây đằng kia vẫn cái giọng hối hả và ấm áp:
- Tôi hơn bà có đến . . . 1 tuổi.Thôi mình xưng hô anh em cho tiện trò chuyện nghe!
Bà lão hấp tấp cướp lời:
-Hỏng được!Lớn nhỏ hơn nhau có 1 tuổi cứ là mày tao thôi!
Khúc khắc đầu dây đằng kia một giọng cười hiền:
-Cô bé !Vẫn cái giọng ngang như cua không hề thay đổi-cái giọng đã cuốn chặt đời tôi vào đó.Cô biết không,hồi đó tôi học trường nội trú Nam sinh, còn bà học trường nội trú Nữ sinh. Đến khi thi chuyển cấp mới được biết nhau .Hôm đi thi cái thước kẻ tôi mang theo để gạch hàng là chiếc đũa.Còn cô bé : Bút mực,bút chì,compa,eke đủ cả. Tôi bỗng nghĩ: Quái lạ, sao cô bé giàu.Và tôi đã không dám làm quen.Mấy hôm sau, khi công bố điểm thi ,điểm của cô tận trên trời, điểm cuả tôi dưới đất.Thế là tôi buộc phải lặng thầm cho đến . . . bây giờ .Có điều, tôi vẫn cất giữ hình ảnh của cô ,nhớ về cô như cất giữ và nhớ về một nốt nhạc trầm trong bản nhạc của cuộc đời mình.
Bà lão bị sốc và cảm thấy vui.Một niềm vui có phần ngộ nghĩnh. Lặng trong giây lát bà lão nói:
-Cảm ơn anh. Tôi coi đó là điều tốt lành trong đời sống của tôi. Anh còn may mắn là đã thổ lộ được mối tình khờ với người bạn nhỏ trước đây.Hơn nhiều người bạn khác mãi ôm ấp trong đời những trắc ẩn không bao giờ có cơ hội được nói ra.
Sau vài đối thoại bà lão biết người ấy vẫn sống đầy đủ bên vợ, con.Thế là bà cảm ơn và xin được thôi, không quan hệ nữa. Nhưng người đàn ông ấy vẫn cứ hằng đêm, hằng đêm gọi điện hỏi thăm sức khỏe và chúc bà lão ngủ ngon. Bà thấy có lỗi và đổi sim điện thoại.Lại phải:
“Cảm ơn đời mỗi sớm mai thức dậy
Ta có thêm ngày nữa để yêu thương”
Nguyễn Ngọc Hân Nghi

Thứ Ba, 4 tháng 10, 2011

DẠI KHỜ

(Có một ngày ĐOÀN TÀU KHÔNG SỐ...)

Hồi đó em quá dại khờ, không biết có những chuyến đi,
Mà người ra đi không bao giờ trở lại.
Hồi đó em quá dại khờ, nên không chờ đợi,
Để tiễn đưa anh trước lúc lên đường.
Phố phường đông, em e ắp nỗi buồn,
Quá giờ hẹn em đành trở lại.
Không ngờ xa nhau chuyến ấy rồi xa mãi,
Để trọn đời nhức nhối một niềm đau.
Hồi đó em quá dại khờ, không biết có những bận xa nhau,
Lại có thể xem như là vĩnh biệt,
Nếu biết vậy em nguyền để hết,
Trọn cuộc đời, chỉ biết đợi chờ anh.
Hồi đó em quá dại khờ,không biết chiến tranh,
Lại có thể cướp mất anh vĩnh viễn,
Cho đến đất cũng không nói với em nơi nào anh nằm xuống,
Ngoài trái tim em thăm thẳm một bóng hình.
Có một lần anh dặn em: Đừng buồn,
Hết chiến tranh, anh sẽ đón em về với mẹ.
Có một lần và chỉ một lần như thế,
Anh vuốt tóc em nhè nhẹ giữa gió chiều. . .
Em đã quá dại khờ không dám nói một lời yêu,
Dại khờ nghĩ còn nhiều dịp nói,
Để mãi mãi không bao giờ nói được,
Về một tình yêu nhức nhối trong lòng. . .
Em đã trở về giữa Ngã Năm sông,
Vàm Xẻo Chính nghẹn ngào con nước chảy,
Em gặp lại không biết bao nhiêu bạn bè thời thơ dại,
Chỉ có riêng anh, em không thể kiếm tìm! . ..

Đàm Thị Ngọc Thơ

Thứ Năm, 22 tháng 9, 2011

NƠI ẤY CUỐI TRỜI


(Ký – Nguyễn Ngọc Hân Nghi)
Không phải bây giờ mà kể từ hồi còn rất nhỏ, tôi cũng đã là người của Đất Mũi, Cà Mau.
Bà ngoại mất sớm, ông ngoại tôi rầu, bỏ quê cũ Sóc Trăng, ông ngoại tôi về tuốt vàm Cả Cám định cư làm ăn, sinh sống. Mới chín, mười tuổi, tôi đã biết lần theo dân buôn, tìm đến nơi ngoại và cậu ở. Tôi đã từng theo mợ len vào các vạt mắm ven biển bắt ốc len, sò, vọp… ngồi trên xuồng theo cậu ra biển xem đẩy xịp bắt cá, tôm… Quá giang ghe đò, tôi cũng đã chở về được cho má tảng mắm ruốc, khạp mắm cá cơm, giỏ ốc len, bọc vọp… Với tôi, những ngày đó như được sống trong truyện cổ tích thần kì. Những năm xa ngoại, xa quê tôi vẫn mang theo lòng mình tình yêu sâu lắng nơi vạt biển cuối trời. Ở đó có ngoại tôi.
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, về lại chốn xưa, tôi mới hay gia đình tôi đã chuyển cả về xứ biển. Ba tôi buộc phải chuyển vùng để tránh luật 10/59. Bỏ lại sau lưng những cám dỗ của Sài Thành, tôi tình nguyện về sống và làm việc tại Cà Mau từ năm 1975. Nhờ vậy suốt trên 30 năm qua, tôi có nhiều cơ hội đưa quý thầy cô giáo cũ, các đoàn làm phim, người thân và bè bạn về thăm mảnh đất cuối trời – nơi chót mũi Cà Mau.
Tôi đã đến nơi ấy không biết bao nhiêu lần. Nhưng hễ có dịp là tôi lại đi. Không biết mệt mỏi. Không biết nhàm chán. Dẫu ở đó chưa có nhiều những gì để thực hiện một chuyến du lịch. Bởi trong tôi sẵn có một tình yêu Đất Mũi. Đất Mũi bao giờ cũng mới mẽ, đầy sức quyến rũ, cuốn hút bước chân tôi. Tôi muốn khoe với mọi người cái nơi tận cùng đó, cái nơi còn thật nhiều điều mới mẻ, hoang sơ, chân thật, trong tình đất, tình người.
Cột mốc số 0 chính là đích của điểm đến. “Đến Cà Mau rồi không xuống cột mốc số 0 coi như chưa đến được Cà Mau”. Tôi vẫn nói với bạn bè như thế. Và mọi người đều nghĩ vậy. Nhất là những ai đã đến Ải Nam Quan (giờ là Hữu Nghị Quan) sẽ vô cùng hãnh diện vì đã đi được suốt chiều dài đất nước: từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau.
Ban đầu cột mốc chỉ là cái trụ xi măng có ghi tọa độ, chôn dưới hố vuông nhỏ. Dần dần nó được tôn tạo nằm vào giữa ngôi sao năm cánh đắp xi măng. Các đầu cánh sao nhô cao, trên đó có ghi chữ nổi: Nơi đây cột mốc tọa độ số 0 . Sau một thời gian nữa, nó được cho vào tủ kính, khóa kĩ , ít khi có người mở tủ cho khách tham quan nhìn ngắm.. Cho dẫu vậy mọi người vẫn thõa mãn là đã đến được vùng đất cuối trời , được nhìn ngắm cột mốc số 0, được nhúng chân vào bùn nơi cuối Việt. Có người còn bẻ vài trái đước , vài quả mắm để về khoe là mình đã đến mũi Cà Mau. Lý thú nhất là từ ngày Tỉnh cho xây chiếc tháp cao để mọi người lên đó nhìn xuống chót Mũi. Trên đó khách du lịch giơ tay về cuối đất, máy ảnh đánh “cách” thế là có bức ảnh tay chạm Mũi về khoe với bạn bè, người thân.
Những năm 80, người ta về Đất Mũi trên những chiếc tàu đò máy dầu chạy xập xình đến năm sáu tiếng đồng hồ. Du lịch Đất Mũi mất cả ngày trời . Sau đó nhờ những chiếc bo bo, đi chơi Đất Mũi chỉ mất một buổi . Với những người chưa quen sóng nước ngồi bo bo nhiều phen thót tim. Đó là lúc bo bo khởi động hoặc nhảy sóng. Có lần tôi đưa ba đồng nghiệp nữ và hai học sinh nam trên chiếc bo bo bảy chỗ về thăm Đất Mũi. Đến cửa sông Năm Căn, đoạn từ chợ Năm Căn qua rạch Ông Trang trời bỗng đổ cơn mưa và gió cũng khá to. Bo bo nhảy sóng dập dờn, chồng chềnh, chao đảo. Tôi không biết bạn mình đã rất sợ. Qua được khúc sông ấy rồi, mọi người thở phào nhẹ nhõm, tôi mới hay mình đã vô tình. Về lại Thành phố Hồ Chí Minh bạn tôi kể chuyện, có người đòi xuống Cà Mau coi cái gan của tôi bao lớn mà dám đưa các bạn về Đất Mũi trong thời tiết ấy. Bạn đầu biết rằng trời Cà Mau chợt nắng, chợt mưa. Mưa Cà Mau ngộ lắm. Hạt mưa thường rất to, quất vào mặt đau điếng. Cái kiểu mưa cũng rất lạ: xào một cái rồi nắng hửng lên ngay. Nó như một đứa trẻ con, tính khí thất thường , hay hờn dỗi, bỗng khóc, bỗng cười.
Sau khi quốc lộ 1 làm xong, khách du lịch có xe bốn bánh thường chạy thẳng xuống Năm Căn, bao cao tốc chạy ra thăm Mũi. Cũng khá lâu sau Cà Mau có tàu khách cao tốc chạy thẳng từ Cà Mau xuống Đất Mũi. Tôi thường chọn phương tiện này đưa bạn đi chơi để được nhìn ngắm sông nước , rừng cây và cuộc sống của người dân trên suốt dọc đường về với Đất Mũi.
Từ Cà Mau về Đất Mũi phải qua rất nhiều khúc sông. Nhưng rộng lớn, mênh mông là khúc sông Năm Căn. Trong một bài hát về Cà Mau có câu: “Dòng sông Tam Giang nắng trãi đưa người, về thăm quê em Đất Mũi xa xôi…” Thật ra khúc sông Tam Giang nằm ở phía trên xa cửa biển hơn. Ở đó có những ngã sông nước xoáy rất nguy hiểm.
Nét hoang sơ của những dòng sông Cà Mau là những vạc rừng nối tiếp nhau từ bờ sông kéo đến tận chân trời. Ra khỏi thành phố Cà Mau chúng ta được tắm mình trên sông nước và rừng thâm u. Xa xa mới có nhà. Càng về Mũi nhà càng thưa thớt, trừ những xóm chợ, xóm chài cửa ngư dân miệt biển. Nếu xuống được chuyến tàu sớm, hoặc về lại chuyến tàu cuối ta sẽ cảm nhận được cái mùi ngai ngái trong khói cây củi mắm. Cái mùi cây đã theo tôi suốt 21 năm trời nơi miền Bắc.
Rừng Cà Mau về hướng Mũi là rừng đước, rừng mắm. Khác với miệt U Minh “bốn bề là tràm” (lời một bài hát). Tôi thích ngắm những chú cò trắng muốt nhởn nhơ kiếm cá nơi triền sông hoặc lã lướt trên cánh rừng chớp nắng hoặc giỡn mưa rồi sà xuống một khóm cây nào đó tỉa tót bộ lông dính nước. Dưới chân rừng đước, trên những thân cây, đeo bám dày đặc những chú ốc len hoặc ba khía. Ba khía Rạnh Gốc nổi tiếng nhất xứ miền Tây bởi chắc thịt, đặc gạch và thơm ngon. Thường các em bé và phụ nữ thu gom những của trời cho đó. Còn đàn ông ở những khúc sông này thường trầm mình dưới nước đóng đáy kiếm tôm ,cá nuôi sống gia đình. Họ vất vả hơn phụ nữ nhiều. Da thịt họ cháy đen, khét mùi nắng gió nhưng trên gương mặt họ luôn nở nụ cười tươi,cởi mở, chan hòa. Cuộc sống của người dân cuối trời này còn nhiều lam lũ. Nhưng họ sống hồn nhiên, chân thành và hiếu khách. Bạn muốn biết điều gì họ chỉ dẫn hết sức tận tường.
Nếu chưa một lần về Cà Mau, nếu chưa một lần về thăm Đất Mũi thì bạn ơi hãy cố gắng đi về. Vì nơi ấy đất đang lấn dần ra biển. Và cũng vì nơi ấy biển đang mang đất ra đi. Ở nơi ấy, những dòng sông đang hát ru dỗ giấc những cánh rừng. Những cánh rừng vẫn miệt mài lấn dần ra biển như những chiến sĩ biên phòng luôn bám trụ giữ lấy đất quê hương . Và con người đang trồng cây, đóng cộc bảo vệ Đất Mũi thân yêu. Để Mũi Cà Mau vẫn mãi như mũi con tàu vươn dài ra biển lớn ,bồi đắp nên những phồn vinh cho đất nước này. Và bạn ơi! Xin hãy một lần về lại với Cà Mau.
Địa chỉ liên lạc:Đàm Thị Ngọc Thơ
123b Nguyễn Trãi P9 TPCM

Thứ Tư, 31 tháng 8, 2011

KỶ NIỆM HỌC TRÒ.2


Bài 2: Chuyện của T.Q.
Hôm cô giáo giảng bài thơ : “ Tiếng hát sông Hương” của nhà thơ Tố Hữu , khi cô vừa đọc dứt câu : . . . Khi mô vô bến rời dòng dâm ô . . . Bỗng dưới lớp có em hét lên “ Trời ơi !” làm cô và cả lớp thảng thốt. Không đợi lâu cái giọng đó hạ xuống, đọc tiếp: em biết khi mô. Thân em hết nhục dày vò năm canh . . . Hay ! cô khen giọng đọc diễn cảm và nhờ đọc hết bài Đương nhiên đọc xong bị cô rầy vì đã giỡn trong giờ học. Cô “ rủ ’’ T.Q. 2h chiều lên đọc kình thơ với cô Nếu đọc lợi cô thì trong giờ dạy cô cho phép cướp lời cô bất cứ lúc nào .
1h30 vừa mở cửa cô đã thấy T.Q. chờ sẵn .
- Cô hẹn 2h mà .
T.Q. bẻn lẻn :
- Em chờ để xin lỗi cô.
Sau đó cô trò họ rất thân nhau .
Hôm rồi ra Đà Nẵng, cô giáo có báo với T.Q. Nhưng T.Q. nói là bận giữ nhà không đến được. Cô giáo nghĩ: giá như nó không phải là ông chủ của một tiệm vàng có cỡ ở Đà Nẵng thì cô giáo đã đến thăm nó rồi. Vì cô giáo rất nhớ nó. Thôi đành gởi lại trong gió Đà một nỗi buồn và nhớ . . . bâng quơ ! ! ! .
Đ.T.N.T.
Bài 3 :
Chào sư phụ
Từ nhà ở của giáo viên trường HSMN số 8 Vĩnh Phúc thời sơ tán đến nhà ăn tập thể của trường khá xa nhau . Giáo viên thường sang nhà ăn dùng cơm rồi về . Hôm đó thầy L không khỏe nên mang cập lồng nhận cơm về ăn. Trên chiếc xe đạp tập tàng , chiếc nón lá lụp xụp trên đầu , thầy vừa quay về đến triền dốc , bỗng “ vèo”, cập lồng cơm biến mất . Đó là mấy đứa đang chăn mấy con dê tự túc của trường . Thầy tặc lưỡi : thì chúng nó ăn không đủ no , rồi đạp xe thẳng về nhà nghỉ , không cần truy cứu . Không đầy nửa tiếng sau , mấy đứa trực đàn dê về qua khu nhà ở của thầy . Chiếc xe đạp tập tàng và chiếc nón lá te tua . . . Tụi nó hiểu ra cớ sự . Ngoan ngoãn tụi nó gặp thầy để xin lỗi :
- Xin lỗi “Sư phụ” , tụi con đã lầm .
Rất lâu sau này thầy giáo nói :
- Tụi nó ăn của mình phần cơm mình không buồn . Chỉ buồn là tụi nó gọi mình không khác gọi mấy con dê .
Năm 2009 nhân kỷ niệm 55 năm trường HSMN thầy L có về thăm lại nơi trường sơ tán . Qua mõm đồi xưa thầy cúi nhặt hòn đá nhỏ , chọi vu vơ để nhớ một thời . Đ.T.N.T.
Bài 4:
B. cờ đỏ của trường kể .
Thời ăn độn bột mỳ, trường HSMN Đông Triều có xây cái lò nướng bánh mỳ .
Bột nhồi kỹ , ủ sơ sơ nặn thành bánh xếp vào các dãy lò để nướng . Cửa nhà lò khóa kỹ . Cửa sổ nhà lò hay bị các chú để quên . Cờ đỏ trực đêm thường đói bụng . Thế là mấy cái chĩa ( ở miền Nam dùng xom cá ) ra đời . Chúng được đưa vào các hệ thống lò , xâu lấy bánh , nhẹ nhàng kéo ra , thả sức ăn . Cửa vẫn khóa mà bánh thì mất . Nó tự hào :
- Mỹ còn diệt được xá chi có vài ổ bánh mỳ .
Nó đi học theo tiêu chuẩn bản thân là “Dũng sĩ diệt Mý” . Bạn bè phong tặng thêm cho nó “Dũng sĩ diệt bánh mỳ”. Nhiều năm trước nghe đâu nó làm bí thư của một thành phố nọ . Giờ đây cũng nghe đâu nó là Ủy viên T.Ư. Đảng .
Ghi lại và bổ sung : Đ.T.N.T.
Bài 5. Trộm .
Chuyện “hai năm rõ mười” ở trường HSMN số 1 Đông Triều ,giáo viên chỉ biết tăng gia bằng cách trồng rau , cải . Không thầy cô nào biết tự túc chăn nuôi lợn ,gà . Ngược lại, cô chú tiếp liệu và cấp dưỡng chỉ biết nuôi lợn gà , không ai trồng trọt . Rau cải thì luôn xanh tốt . Còn lợn gà cứ thế thường xuyên bay hơi .
Trường hợp mất của mà ở ngoài dân thế nào mọi người cũng được nghe chửi ít nhất 4 ngày 3 đêm . Chửi có bài , có bản , chửi thành vần thành điệu . Còn ở trường HSMN ,mất của chỉ biết ngậm đắng nuốt cay .
Có người thắc mắc : Vì sao kẻ trộm chỉ bắt lợn , gà mà không nhổ rau ,cải . Trộm nói :
- Rau cải chỉ biết ăn đất . Còn lợn, gà ăn bớt phần lương thực,thực phẩm của chúng em .
Đ.T.N.T.