Hiển thị các bài đăng có nhãn TGTB. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn TGTB. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 12 tháng 7, 2016

NHỮNG KỶ NIỆM KHÔNG QUÊN VỀ BAC LỘC !


   Những Kỷ niệm về Người Thầy, người Bác, người cha của cá thế hệ HSMN trên đất Bắc - NGND LÊ PHÚ LỘC!
   Tôi ở Quế Lâm về Đông Triều, tháng 9 năm 1975 tôi ở Đoàn Quảng Đà 3 về Miền Nam. HSMN QNam có trường nội trú Tam Kỳ, còn HSMN QĐà thì tùy nghi di tản. Tôi học trường TH Thái Phiên và tôi có Học bỗng nhận ở Ty GD QNĐN. Một buổi chiều cận Tết AL 1976, tôi đến Ty GD để nhận học bỗng về ăn Tết, bước ra sân chuẩn bị lấy xe đạp về thì tôi nhìn thấy bác Lê Phú Lộc, trước là PGĐ Khu GD HSMN Quế Lâm, lúc đó là Trưởng ty GD QNĐN. Tôi chào bác và bác cũng nhận ra tôi là HSMN QL. Bác hỏi thăm tình hình của tôi và các bạn ở Quế Lâm ở QNĐN. Tôi thưa thật với bác là các bạn còn theo học rất ít vì hầu hết HSMN có điều kiện khó khăn nên đã bỏ học đi làm mưu sinh. Bác hỏi thế các bạn đi làm những ngành nghề gì? Tôi thưa: Đa số các bạn gia nhập lực lượng công an, một số bạn nữ theo nghề dạy học... Bác nói thôi thì tùy hoàn cảnh mỗi cháu, nhưng bác thấy theo nghành công an cũng tốt, Miền Nam mới giải phóng, việc giữ gìn an ninh trật tự xã hội cũng rất cần những con người tâm huyết, bác tin là các cháu cũng sẽ rất tiện bộ, có điều kiện thì lại học lên cao. (Việc này là bác nói đúng: Sau này nhiều bạn tham gia lực lượng công an thời đó đã phấn đấu, học tập và trở thành các sĩ quan cao cấp, nắm giữ các cương vị lãnh đạo của nghành công an)
Tôi chào bác ra về, bác bảo : Đợi bác tí. Bác quay vào phòng và bước ra , trên tay là một gói mứt Tết. ( Chắc là tiêu chuẩn Trưởng ty của bác) Bác nói: Cháu cầm về ăn Tết. Tôi ấp úng: Thưa bác... Bác nói: Bác cho, nhận đi...Tôi lí nhí cảm ơn bác... Về quê, tôi nhìn kỹ gói mứt: Có đủ các loại mứt dừa, mứt gừng, kẹo trứng chim và cả mứt hạt sen... thời đó đây là món quà quý! Tết đó ngoài các món bánh quê má tôi làm, tôi có thêm món mứt bác Lộc hàng quý hiếm thời đó. Sau này, khi ra đời đi làm, tôi có điều kiện thưởng nhiều món ngon vật lạ, nhưng không bao giờ tôi quên được gói mứt bác Lộc cho Tết năm 1976.
   Với chúng tôi những HSMN Quế Lâm, bác Lộc không chỉ là người thầy mà còn là cha, là mẹ của chúng tôi trong những năm xa nhà xa quê xa Tổ quốc. Tôi vẫn nhớ hồi ở Quế Lâm, mỗi lần trường có liên hoan, bác ghé xuống nhà ăn hỏi chúng tôi: Các cháu ăn ngon miệng không? Chúng tôi đáp: Dạ ngon ạ! Bác cười: Sẽ ngon hơn nếu món nước chấm ngon. Ở đây thịt heo chấm xì-dầu thì làm sao bằng chấm nước mắm quê mình... Chúng tôi cũng chỉ biết: Da... 
Hôm Hội HSMN Quế Lâm tổ chức mừng thọ bác 90 tuổi, bác vui lắm, sau buổi tiệc tôi chở bác về bằng xe máy. Trên đường các bạn gọi điện thoại nhắc nhở đưa bác về rồi quay lại...tiếp tục...Tôi vừa chạy xe vừa nghe điện thoại. Khi đến nhà, trước khi bác vào nhà còn nhắc tôi: Cháu vừa chạy xe vừa nói chuyện điện thoại là vi phạm luật đó, lần sau rút kinh nghiệm nhé! Tôi biết lỗi nên ậm ờ!
Thế đấy, bác Lộc của chúng tôi là thế đấy!


   Giờ thì: Tôi vừa đi thắp hương kính cẩn lạy đưa bác về với tổ tiên! 
  Thầy Tảo, thầy Từ, thầy Oánh ( Các thầy giáo dạy ở Trường HSMN Quế Lâm ) đại diện cho các thầy cô từ Miền Bắc vào đưa tiễn bác. 
Bác yên lòng bác nhé! Bác có quyền tự hào về chúng con những thế hệ HSMN, con cháu của bác đã làm việc cống hiến hết sức mình cho xã hội, cho đất nước!
  Và chúng con cũng tự hào có một người thầy, người bác, người cha như bác cả đời cống hiến hết mình cho sự nghiệp trồng người! Bác luôn là tấm gương sáng cho chúng con noi theo!
Vĩnh biệt bác: Người thầy, người cha của chúng con !

Thứ Năm, 31 tháng 12, 2015

        DŨNG SĨ QUẾ   (Kỳ cuối)

ĐỌC LẠI :Dũng sĩ Quế kỳ II

Chân chất nhưng rất kiên cường

       Tháng 8 năm 1970 tôi trong hội từ T64 – Đống Đa, Hà Nội, nó trong hội từ Đông Triều qua Quế Lâm để lập thành cái lớp Một C năm học 70-71. Anh Nguyễn Văn Lân (Phú Yên. Đã mất)  sinh 1954 “già” nhất lớp đóng danh Lớp trưởng, nó đóng danh lớp phó phụ trách lao động, đội trưởng đội bóng đá lớp tôi. Tôi còn nhớ nó đá vị trí hậu vệ thòng nhưng gần như bao sân, tôi được nó cho đá hậu vệ biên, thế cũng sướng tê tái. Hội từ Đông Triều sang hầu hết biết đá bóng vì đã có thâm niên một năm lớp Vỡ Lòng, tôi nghe chúng nó kể cô giáo tên là Cô Tặc dạy, không biết đúng không nhưng tôi cứ thắc mắc tên ngộ ghê. Chúng nó còn kể được xem mấy anh cấp III ở Đông Triều đánh bóng chuyền hay lắm, có anh Việt đập bóng cháy lưới. Là tôi nghe hội từ Đông Triều qua kể, duyên số thế nào sau này khi ra công tác những năm đầu anh Việt là giám đốc đầu tiên của tôi, tôi được diện kiến anh không những quả đập bóng cháy lưới mà còn nhiều món hay để tôi trưởng thành trong công việc sau này.  Nhiều thằng lớp tôi chỉ được nó cho chân dự bị, lâu lâu mới được đá thay người cũng oách lắm rồi. Hồi đó bọn tôi nhìn Đỗ Sự, Thanh Cẩu, Hòa Ré… cấp II rê dắt bóng điệu đàng mà mê mẫn. Và rồi nó “chết” với cái chức này qua bao mùa mưa nắng cùng tôi chiến được 7 lớp trong 5 năm ở xứ Quế. Tuổi tác thì xem xem nhau nhưng nó lúc nào cũng nhường nhịn lũ bọn tôi. Trong lớp bao giờ cũng có ba phái: Phái ngoan, phái nghịch và phái trung dung. Nó bao giờ cũng là trung tâm đoàn kết, là người hòa giải khi có xích mích giữa các phe phái. Hắn học giỏi, chơi thể thao tốt, tướng tá ngon lành lại vui tính, nên rất được nể nang dù là phe phái nào. Có nhiều bạn gái cũng mến nó trên mức bình thường. Năm cuối cấp II, nó thi HSG Văn Miền Bắc, tôi thi Toán. Nhớ lại thấy cũng oai phếch.

Thứ Bảy, 26 tháng 9, 2015

Nhớ Anh Trần Văn Hoàng




   Bao nhiêu lần định viết về anh, nhưng rồi lần lữa mãi do công việc cũng có mà chính là lười viết, cho đến hôm nay trước ngày giỗ đầu của anh (năm thứ ba). Thế mà đã tròn ba năm ngày anh về với mẹ, trung Thu năm 2012. Anh và tôi cùng họ Trần nhưng anh ở Duy Xuyên tôi Điện Bàn với hai nhà thờ Tổ khác nhau. Cuộc đời đưa đẩy để anh em chúng tôi gặp nhau, sống và công tác cùng nhau một thời. Không làm lễ cắt máu ăn thề nhưng trong thâm tâm anh coi tôi và thằng Tám (Nguyễn Đỗ) như hai đứa em ruột và hai đứa tôi cũng coi anh như anh Hai mình.
   Nhớ lại hồi 1982, lúc đó tôi còn sinh viên tham gia dọn nhà cho ông bạn Quế Dương Xuân Bình, hắn chiếm đại một căn hộ trong khu tập thể trường Trung cấp vừa giải tán, vợ hắn sắp sinh con đầu lòng mà không có chỗ chui, đành thế. Đang loay hoay dọn dẹp nhìn sang căn hộ bên cạnh thấy một cha trông mặt quen quen. Hỏi Xuân Bình: Ai vậy? À, đó là anh tên Hoàng, nghe đâu cũng là HSMN Đông Triều. Nhìn qua thấy phu nhân ông anh HSMN lớp trước cũng mang bầu lặc lè. Vậy là cùng cảnh ngộ với Xuân Bình, nên quả liều giống nhau. Lân la hỏi thăm mới biết anh học lớp 10K năm 1975 ở Đông Triều. Và rồi tôi nhớ ra anh: Anh Hoàng ở Duy Xuyên. Ừ, răng biết. Anh không nhớ em? Hồi ở Quế Lâm về năm 75 em ở phòng anh. A, mày là em thằng Ba Mập, Dũng nhớ rồi. Hồi ở Hà Nội tao gửi sách sức bền và vẽ kỹ thuật về cho mày mà gặp thì quên mất, hèn gì tao thấy quen quen. Những năm sau giải phóng, trường mới sách vở thiếu phải học chung, tôi gửi thư cho ông anh học Trường An ninh, anh ấy nói lại với anh Hoàng BKHN nên được hưởng lợi ( Chắc là anh cũng chôm của trường gửi cho thằng em, chứ mần chi có của riêng, là tôi suy diễn thế).
    Ở Quế Lâm về tôi theo chị Hai tôi về K20 trên Phú Thọ nên về Đông Triều sau các bạn trong lớp. Hội Quế Lâm về ở Khu lớp học, trải chiếu nằm nền xi-măng. Anh Huỳnh Văn Tân đón tôi ở Hà Nội đưa về Đông Triều và cho tôi vào ở với lớp 10K, lớp cũ của anh Ba tôi, lúc đó còn chưa đến chục anh chị vì nhiều người đã vượt tuyến về thăm quê Miền Nam. Tôi tự nhiên được trở thành “học sinh chờ 10K” đúng nghĩa ( được phân cho một cái giường, có chăn mùng và ăn cơm ké ) ( Không phải “học sinh 10 K chờ”). Tôi nhớ ở lớp 10K lúc đó ngoài anh Trần Văn Hoàng còn có các anh: Nguyễn Đình Chiến, Trần Phước Hảo, Thái Võ Trang, Võ Cang (mập),Võ Thanh, Minh Chiến, Phước, Long…Mấy hôm sau thì có anh Ngũ về Miền Nam mới ra. Tóc dài, áo chẽn, quần loe, dép sapo, đúng mốt Miền Nam lúc đó, trông bảnh chọe. Đến bữa ăn, các anh nhận cơm từ nhà bếp về phòng ở, anh Hoàng cấp cho tôi một cái thìa và bảo: Ăn cơm Dũng. Tôi đang lúng túng không biết xoay xở ra sao thì thấy các anh đã xúm quanh mâm cơm dưới nền nhà mỗi người một cái thìa và…xúc. Tôi cũng là theo, rồi quen dần. Có một hôm đến bữa ăn, mọi người đang chuẩn bị thao tác thì thấy có một anh da trắng trẻo, người dong dỏng bước vào phòng. Các anh gần như đồng thanh: Mời thầy ăn cơm! (Sau này tôi biết đó là thầy Bắc dạy toán và cũng là chủ nhiệm lớp chuyên toán 10K) Tôi thấy thầy thò tay vào túi quần sau rút ra một cái…thìa và cùng ngồi ăn cơm tự nhiên với chúng tôi. Với mọi người, ngay cả thầy Bắc có khi không nhớ, nhưng tôi kẻ ăn ké lớp 10K năm 75 thì đây là bữa ăn đặc biệt nên nhớ dai lắm. Rồi các anh nhận giấy báo điểm thi đại học người vừa lòng kẻ không vui. Tôi theo đoàn về lại Miền Nam. Đến giờ trong số lớp 10K năm 75, tôi gặp lại một số người hôm được mời dự họp lớp với các anh chị tháng 7-2012, nhưng còn nhiều người tôi cũng chưa có dịp gặp lại. Riêng anh Trần Văn Hoàng thì gắn bó như anh em ruột thì nay anh đã đi xa mãi mãi.
    Run rủi thế nào sau hai lần đổi quyết định phân công công tác ở Tổ chức chính quyền tôi lại về cùng Công ty với anh. Tôi nhân viên Phòng Kế hoạch, anh trưởng Phòng Kỹ thuật Công ty Khai thác Thủy sản QN-ĐN. Rồi khi di chuyển đoàn tàu đánh cá vào phía Nam, anh trưởng Đoàn tôi làm phó cho anh. Mũi Né - Phan Thiết, Vũng Tàu - Côn Đảo, Kiên Giang- Phú Quốc…những nơi mà anh em chúng tôi đã từng trú ngụ để tổ chức cho đoàn tàu Đà Nẵng di chuyển khai thác hải sản ở những ngư trường mới hiệu quả hơn. Công việc vất vả, nắng mưa, bão gió cộng với nỗi nhớ gia đình…anh em chúng tôi đã thương nhau càng thương nhau hơn. Với thương hiệu HSMN chúng tôi đi đến đâu cũng đều được các anh chị là các cựu HSMN đang là lãnh đạo chính quyền, các công ty… quý mến, giúp đỡ, tạo mọi điều kiện tốt nhất cho chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ.
Khi đưa đoàn tàu lên ụ (như một cái hồ nước lớn, có cửa để đưa tàu vào rồi bơm nước ra, tàu sẽ nằm trên cạn ) để sửa chữa sau vụ cá Nam, hợp đồng ban đầu là 40 triệu (vàng 1,5 triệu/lượng), nhưng sau khi thăm hỏi làm quen ông anh giám đốc Xí nghiệp trục vớt Ba Tòng cựu HSMN Đông Triều lứa BTCN, gặp hai thằng em cựu HSMN ĐT lứa sau, “Zui quá, gặp tụi bay zầy là zui rôi! Đi nhậu đã, có món trục lắp hộp số hay lắm. Tụi bay đi zới anh. Nhâu nhiệt tình thì giảm giá, hổng nhệt tình thì có khi giá phải tăng.” Anh Ba Tòng kéo chúng tôi đi nhậu tới bến cấm nói chuyện công việc. Trong khi nhậu anh kể: Hội HSMN Sông Bé (lúc đó còn là một tỉnh) có Đồn điền cà-phê, cao su riêng nên quỹ Hội chúng sung lắm. Có thằng Ba Hiếu PGĐ Sở… tỉnh trù trì. Hội Zũng Tàu bọn tao đã quyết định một thằng trung tá nghỉ hưu để quản lý Nhà máy nước đá của hội, lấy quỹ lâu lâu tụ họp nhậu chơi…Anh quy ước khi triển khai đưa tàu vào ụ, anh Ba chỉ tiếp mấy thằng bay từ 16g30. Ngày hôm sau hợp đồng chỉ còn giá trị dưới 20 triệu đồng. Khi kết thúc hợp đồng, công việc sửa chữa tàu hoàn thành tốt đẹp, anh Ba Tòng nói với tôi: Việc xong, tốt đẹp. Để tạo điều kiện cho anh em mình: Tao làm quyết định thưởng bọn bay, bọn bay thưởng lại anh , mới có tiền nhậu tiếp chứ? Tôi thấy có lý, giá anh Ba giảm cho mình quá hời, công việc lại tiến triển suôn sẻ, nên bàn với anh Hoàng để hợp thức hóa thì thực hiện phương án anh Ba Tòng đưa ra là tối ưu. Dạo đó cơ chế còn bao cấp nên tiền bạc cũng khó khăn, thủ tục cũng khá rườm rà. Anh Hoàng không đồng ý, lý do tiền Nhà nước không đụng đến, anh V Giám đốc tin tưởng hai anh em mình, làm thế tao thấy không hay. Thôi, nói lại anh Ba Tòng thông cảm. Anh Ba Tòng cười, đúng là mấy thằng khu eo, nhác gan thế. Nói thế rồi anh rủ chúng tôi đi nhậu và cười trừ với mấy thằng em HSMN eo.
Thế đó, anh Hoàng của chúng tôi trong công việc thì trách nhiệm đầy mình. Khi ra trường anh xuống trực tiếp làm thợ sửa chữa tàu, anh thuộc từng con bulon ốc vít của tàu cá, nên khi làm trưởng phòng kỹ thuật, chẳng có chú thợ máy nào qua mặt được anh. Công nhân tiện, hàn làm chưa chuẩn anh đứng máy tiện, cầm mỏ hàn làm mẫu trực tiếp cho họ thấy. Trong sinh hoạt thì mẫu mực luôn là người anh cả của chúng tôi. Trong công ty ai cũng yêu mến và tôn trọng anh. Sau đó anh xuống đi tàu Vận tải viễn dương (thời đó là ghê gớm lắm) được ba chuyến đang cải thiện được đời sống, nhưng vì công việc lãnh đạo công ty yêu cầu lên bờ để phụ trách đoàn tàu cá đang khai thác tại Kiên Giang anh sẵn sàng nhận nhiệm vụ khó khăn cực khổ hơn.
     Biết bao nhiêu kỷ niệm về anh, nhưng với bài này làm sao kể hết. Trong bài “Nhậu với Giám đốc Nông trường Quyết Thắng” Nhân vật anh H – trưởng phòng Kỹ thuật chính là anh Hoàng của tôi đó.
Tối hôm trước ngày anh mất, tôi ngồi với anh, khi chỉ còn hai anh em, anh bảo tôi: Mày bóp cái chân anh chút, mỏi quá. Không ngờ đó là những lời cuối cùng anh nói với tôi, sáng hôm sau anh ra đi mãi mãi. Khóc anh tôi không dám khóc thành lời. Anh ra đi tôi thấy “hụt hẫng”. Má tôi khóc: Sao mà nó chết trẻ thế trời ơi. Anh là bạn tâm giao của bà, vài ba hôm lại ghé qua nói chuyện với cụ, cụ coi anh như mấy đứa chúng tôi. Anh thường nhắc nhở anh em tôi còn mẹ là có phúc, bọn bay phải chú ý ngoài việc lo cho bà, còn phải tâm sự hỏi han, người già thích tâm sự. Anh mồ côi cha mẹ sớm, nên thiếu thốn tình cảm, anh luôn coi mẹ chúng tôi như mẹ anh. Anh ra đi cả xóm tiếc thương anh…
Thấy chị Minh Tâm lớp 10K đã đăng bài trên FAC nói về anh Trần Văn Hoàng nhân giỗ đầu của anh trong khi bài này tôi đang viết dỡ dang. Thôi thì bài viết này như nén nhang thắp anh trong ngày giỗ. Sáng ra tôi sẽ qua thắp nhang và dự đám giỗ anh. Tôi sẽ thắp hương thay cho bạn bè anh em không đến được.
   
    Anh Hoàng ơi, ba năm rồi ngày anh đi xa, nhưng em vẫn như thấy bóng anh còn đâu đây, sự hụt hẫng thiếu anh vẫn còn trong em. Trên bàn thờ ảnh anh vẫn nụ cười tươi roi rói.
Trung Thu 2015, Kỷ niệm 3 năm ngày mất của anh Trần Văn Hoàng

Thứ Ba, 22 tháng 9, 2015

Dũng sĩ Quế (kì II)

Chút chút thôi nha !

        Cuộc họp ngày cuối, đầu giờ chiều tôi nhắn tin cho nó: “Mày có ở BV, khoảng sau 6h chiều tao đến”. Nó nhắn lại: “Ok, cứ đến cổng BV…thì gọi tao”.
Xong họp sớm, tôi tách đoàn và đi taxi đến cổng BV…điện thoại cho nó. Chờ tao tí, có chút việc gần xong. Quán vỉa hè trước cổng bênh viện, tôi gọi chai nước khoáng giải khát và chờ bạn. Rút máy lướt web giết thời gian. Lơ đãng ngắm phố phường trước giờ trời tối. Đường phố ồn ào, xe cộ và người như nêm. Mắt đang bị hút bởi những dòng người xe hối hả khi phố mới lên đèn thì xuất hiện trước tôi một ông cụ dáng đi xiêu vẹo, bước thấp bước cao, tay cầm xấp vé số. Tôi buộc miệng: Vé số! Ông cụ đi về phía tôi: Ông mua vé số? Tôi mời ông ngồi uống nước và thắc mắc với cọc vé số còn dày gần như nguyên xi: Sao giờ này mà còn nhiều vé số  thế ông? (Tôi định gọi chú hoặc bác, nhưng rồi không hiểu tại sao lại gọi ông, có lẽ do mái đầu bạc trắng xóa nhìn như người 80 tuổi). Vé ngày mai đó, vé hôm nay còn lại tôi đã trả lại đại lý rồi. Tôi mua 20 tờ vé số và hỏi chuyện ông cụ về mưu sinh với nghề này có đủ trang trải cuộc sống không? Ông cụ nói cũng tạm qua ngày chờ ngày “tịch”. Ông cụ cũng tiếu lâm ghê. Ông cụ hỏi và gần như tự trả lời: Chú hình như là người Trung? Tôi cũng quê Miền Trung. Chú công tác? Vâng, tôi đi công tác, sáng mai về lại đang chờ gặp người bạn là bệnh nhân đang ở viện? Sao không vào bệnh viện? Người bạn tôi đang đi ra ngoài, tôi đang chờ. Bạn chú bị bịnh chi, nằm ở bệnh viện lâu chưa? Anh ấy bị suy thận phải chạy thận nhân tạo, nghe đâu phải lọc máu ba lần trong tuần, anh ấy ở lại luôn trong  bệnh viện. À, có phải anh  giáo chạy thận mười mấy năm ở bệnh viện này. Tôi bán vé số quanh đây mấy năm rồi, cũng có biết chú đó, cùng quê Quảng Ngãi với tôi, yếu lắm rồi, vợ con ở xa, chú ở một mình nhờ gầm cầu thang trong bệnh viện, lâu lâu mới về nhà lần. Giọng miền Trung của ông cụ pha tạp giống tôi nên tôi thấy dễ gần, cách nói chuyện của ông cụ cũng có duyên, tôi như gặp người được người thân giữa chốn đô thành sầm uất. Ông bán vé số ngoài giọng nói sang sảng và đôi mắt sáng, còn cả người ông là sự tiều tụy, có cảm giác ông mà về miền Trung gặp bão đễ thổi bay mất.  Những ngón tay dài tóp teo cố cầm cho chắc tập vé số. Tôi nhìn dọc cánh tay ông cụ thấy mạch máu nổi lên một đường xanh chạy dọc theo cánh tay lên cổ. Dấu vết của việc chích kim để lại chằng chịt, động mạch cổ của ông cụ còn nổi lên một cục bọng máu to tướng. Ôi đích thị “dân xì”. Tôi đặc biệt dị ứng với dân xì-ke, nhìn kỹ ông này tôi bắt đầu thấy ngán. Tôi hỏi giọng không còn thân mật: Ông chơi ngày mấy “choác” mà chiến tích còn ngổn ngang trên tay, trên cổ thế? Bán vé số có đủ tiền chơi xì không cụ? Mắt ông cụ bán vé số tỏ vẻ ngạc nhiên và khó chịu. Nhưng rồi với giọng ráo hoảnh và đôi mắt trở lại nét dịu ban đầu: Cũng vài lần ngày, bán vé số thì năm khi mười họa, bữa được thì choác có cơm, bữa kém thì chỉ choác còn  nhịn. Biết làm sao được ,số tôi nó sa vào nghiệp chướng, chấp nhận thôi. Nghe ông, sống mũi tôi cay cay. Nhìn ông, tôi thấy ánh mắt ông thoáng vẻ buồn.
          Trời mùa Đông bắt đầu tối dần, đường phố đã lên đèn. Câu chuyện với ông vé số cũng tẻ dần không còn thân mật như ban đầu. Tôi rút điện thoại gọi cho nó, máy ò í e. Chắc là thằng này để máy hết pin. Chờ thêm hơn ba mươi phút mà không thấy nó, đã chậm so với giờ hẹn gần 2 giờ đồng hồ. Các chiến hữu ở Công ty liên tục gọi, tội đành quyết định  lỡ hẹn với nó một lần nữa. Tối nhắn với ông bán vé số ,nếu gặp nó thì nói nó gọi cho tôi. Tôi bắt tay và chào ông vé số bước lên taxi, cuộn vào dòng xe cộ đông đúc của Sài thành.

        Sáng hôm sau, tôi bay chuyến sớm về Đà Nẵng. Trước khi lên máy bay tôi gọi cho nó, máy vẫn tắt. Gọi cho thằng bạn Quế lớp tôi đang ở Sài Gòn. Nó hỏi gặp lớp phó chưa? Tôi nói chưa. Sao thế? Chờ hoài mà hắn không quay lại bệnh viện? Hai giờ đồng hồ chờ nó, tao ngồi ở cổng nói chuyện với ông bán vé số đâu cùng quê nó và cũng biết nó, hình như cha bán vé số nghiện xì-ke mày ạ! Thằng Quế bạn cười ha há thật to. Chắc là thằng lớp phó giận mày bao nhiêu lần đến Sài Gòn mà không thăm nó nên cho mày leo cây. Đến nỗi chi! Tôi chống  chế. Thôi về đi, đến Đà Nẵng mở email sẽ rõ. Tôi đành nghe lời nó thằng bạn Quế miền Trung trụ Sài Gòn, hắn làm thầy giáo mà.

(Còn nữa)  C.

Thứ Tư, 10 tháng 6, 2015

        Chuyên thứ nhất:    TRẬN ĐỘT NHẬP NÔNG TRƯỜNG CAM KHÔNG THÀNH

            Chúng tôi là những học sinh Việt Nam học tại Trường Mùng 2 tháng 9, từ năm 1967 đế năm 1975;  đa số là người miền Nam, có cha mẹ hoặc đã hy sinh hoặc đang tham gia cuộc kháng chiến cứu nước; đến Quế Lâm từ nhiều vùng và từ nhiều dân tộc sinh sống trên đất nước Việt Nam. Là học trò, chúng tôi cũng không thiếu những trò nghịch ngợm, mà giờ đây khi đã trưởng thành nhớ lại và nhìn nhau cùng cười: Sao ngày đó bọn mình nghịch thế, đúng là trẻ con hiếu động và liều lĩnh.
          Một trong những việc chúng tôi gây ra làm ảnh hưởng đến hình ảnh tốt đẹp của Học sinh Việt Nam ở Quế lâm đó là vụ “Đột nhập Nông trường trồng cam” năm 1970.
          Nông trường nằm cạnh Trường, được rào bởi loại cây gai nhọn, tiếp đến là  một con hào sâu và rộng, bên dưới cũng trồng các loại cây có gai. Lê Quang cầm đầu một nhóm khoảng bốn, năm tên; thường sau giờ cơm chiều hay trèo lên tường rào của trường chơi và ngắm nhìn những đồi cam xa tắp. Vào mùa cam chín, những quả cam vàng tươi, cái màu vàng của những trái cam chín mọng nước gợi sự thèm thuồng của lũ trẻ con chúng tôi. Lê Quang nảy sinh ý tưởng muốn khám phá…vườn cam hấp dẫn kia. Đó là sự hiếu động kiểu của trẻ con, chứ ở Quế Lâm mùa nào thức ấy, chúng tôi vẫn được cung cấp hoa quả, bánh kẹo đều đặn.
          Cả nhóm sôi nổi bàn kế hoạch đột nhập, quan sát tìm vị trí có thể dọn cây gai, vượt hào sâu. Khó nhất là phải nhảy qua được con hào rộng khoảng hơn hai mét. Để chứng tỏ bản lĩnh đàn ông, con hào kia với những đứa trẻ “dũng cảm” lúc đó chỉ là chuyện nhỏ. Nhóm trưởng Lê Quang nghĩ ra kế  dùng một cây sào để đu người nhảy qua con hào .  Một góc trong trường có địa thế giống con hào kia được chọn làm nơi tập luyện. Các tên nhỏ hơn ban đầu bị ngã, nhưng cả bọn rồi cũng tập nhảy thành công.
         Lê Quang chọn một đêm trời tối để tập kích vườn cam của Nông trường. Khi có tiếng chuông  hiệu lệnh báo giờ ngủ, cả nhóm bắt đầu bí mật hành động; đi men theo sát tường rào trường để tránh các chú bộ đội gác cổng phát hiện; mau chóng vượt tường rào trường, áp sát hàng rào Nông trường, dùng dao phát dọn một khoảng trống để chui người vào trong rào. Cẩn thận hơn, nhóm trưởng Lê Quang cầm mấy hòn đá quăng về phía vườn cam để thăm dò động tĩnh rồi cầm sào, lấy hết can đảm đu và nhún mạnh người phi qua hào bằng một động tác thuần thục. Trong chốc lát chúng tôi đã nhập thành hoàn hảo và tản ra để thu hoạch chiến lợi phẩm. Trời tối, nên mò được quả nào là chúng tôi vặt tuốt. Công việc “thu hoạch” cam đang diễn ra suôn sẻ hơn mười lăm phút, thì ôi thôi, có tiếng chó sủa, tiếng kẻng báo động; rồi tiếng  bước chân người chạy và tiếng la hét náo động. Ánh đèn pin chiếu sáng quắc cả một vùng rộng lớn. Cả nhóm mạnh ai nấy chạy. Tên cầm đầu Lê Quang chạy nhanh nhất, cầm sào đu người phi qua hào, thế là thoát. Do Lê Quang quên làm động tác đẩy trả lại cây sào, báo hại lũ đàn em bị kẹt lại bên bờ hào sâu đứng run rẩy trước bầy chó chỉ chờ lệnh của các ông chủ bảo vệ là lao vào xé xác mấy kẻ đột nhập kia. Trừ Lê Quang chạy thoát, còn toàn bộ đội hình bị bảo vệ nông trường tóm gọn. Không khó để xác định các đạo chích là các “ông tướng” hàng xóm. Trận tập kích vườn cam đã bị thất bại một cách thảm hại.
         Đoàn “tù binh” được bảo vệ nông trường áp giải vào đến cổng trường. Chờ một lúc thì chú Quân - (phiên dịch tiếng Trung, đã mất) và thầy Hiệu trưởng xuất hiện. Sau khi chú Quân trao đổi với bảo vệ Nông trường, đoàn “tù binh” được trao trả cho thầy Hiệu trưởng. Về đến phòng họp Trường, thầy Hiệu trưởng lướt nhìn từng chiến sĩ bại trận, quần áo rách toạc, mặt mũi lấm lem, chân tay bị cào xước rớm máu, đi chân đất vì dép quăng hết khi chạy tán loạn…
      Lê Quang đang giả vờ ngủ  nhưng suy nghĩ tìm cách đối phó, vì biết thế nào cũng bị khai ra. Được gọi lên gặp thầy Hiệu trưởng, biết không thể chối cãi, lại thấy đàn em vì theo mình mà bị bắt cả lũ, nên Lê Quang thú nhận hết và xin nhận kỷ luật. Sau hôm đó, cả nhóm bị kiểm điểm, kỷ luật cảnh cáo trước toàn trường.
       Sau này, chú Quân  kể lại:  Ban lãnh đạo Trường  phải đến gặp Lãnh đạo Nông trường xin lỗi. Lãnh đạo Nông trường đã thông cảm: Vẫn biết là các cháu học sinh Việt Nam cũng chỉ nghịch ngợm chứ không phải do bị đói. Nông trương không tiếc gì mấy quả cam, nhưng chui rào, nhảy hào sâu có thể gây ra thương tích, có khi bị chó đuổi cắn thì nguy hiểm lắm.
       Sau vụ đó, có một thỏa thuận giữa Trường và Nông trường để  chúng tôi được tham gia lao động chăm sóc cam. Mỗi lần được đi lao động ở Nông trường cam, chúng tôi như đi dự hội, mệt nhưng vui.
       Mùa cam chín, Trường chúng tôi nhận được những giỏ cam vàng tươi do Nông trường biếu (chắc là thưởng cho thầy trò chúng tôi vì có tham gia lao động). Tình đoàn kết hữu nghị giữa Trường và Nông trường ngày càng gắn bó keo sơn.  Trường mở rộng quan hệ hữu nghị với Công xã cạnh trường để học sinh chúng tôi thăm quan học tập, liên hệ thực tế. Chúng tôi còn được đi thăm quan các Nhà máy sản xuất công nghiệp như: Cơ khí chế tạo, Thủy điện Dương Sóc, Chế biến gỗ, Chế biến chè , Sản xuất mỳ chính…
          Thời gian trôi qua, xã hội cũng như cuộc đời của mỗi người có nhiều thay đổi, nhưng những kỷ niệm vui, buồn của tuổi thơ được sống trên mãnh đất Quế Lâm yêu thương thắm đượm tình người, vẫn còn mãi trong lòng chúng tôi. Quế Lâm ơi, xin hãy tha thứ những sai lầm nhất thời và lưu lại ký ức đẹp, những việc làm tốt của chúng tôi ngày ấy. Những cậu học sinh nghịch ngợm ngày đó, nay đều đã trưởng thành, có đóng góp ít nhiều cho công cuộc xây dựng đất nước Việt Nam sau chiến tranh. Chúng tôi tự hào về mái trường nơi chúng tôi đã học tập, rèn luyện và trưởng thành nay được tu bổ, xây dựng thành Trường Đại học Sư phạm Quảng Tây. Với những cựu học sinh Trường Mùng 2 tháng 9 chúng tôi dù đã về lại hoặc chưa có điều kiện về thăm trường cũ, nhưng khi nói về Quế Lâm, tâm trạng ai cũng rất xúc động như thấy lại tuổi thơ; đắm chìm trong ký ức tưởng  như thấy mình trẻ lại dù mái tóc nhiều người giờ đây đã bạc.
         Tôi viết những dòng này như một lời tri ân với mãnh đất và con người mà một thời tuổi thơ chúng tôi - những học sinh Việt Nam Trường Mùng 2 tháng 9 đã gắn bó:  QUẾ LÂM ơi!

   Đà Nẵng, Xuân 2015

  Tóc Gió Thôi Bay 

      
            Chuyện thứ hai: LAO ĐỘNG GẶT LÚA CHỐNG ÚNG, NĂM 1974

  Mùa mưa năm 1974, đồng lúa chín đang kỳ thu hoạch của Công xã cạnh trường ngập úng, cánh đồng thành một biển nước mênh mông. Học sinh Trường Mùng 2 tháng 9 chúng tôi được huy động tham gia thu hoạch lúa giúp Công xã.
          Chúng tôi trở thành những nông dân thực thụ, chân lội nước lõm bõm, tay cầm liềm cắt lúa. Ngày đầu còn chậm, nhưng mấy ngày sau  quen dần, tay liềm đã thoăn thoắt theo từng hàng lúa chín đã ngã rạp do gió mưa.  Chúng tôi vác từng bó lúa to, tập trung từng đống lớn cạnh máy tuốt lúa. Các bạn lớn hơn trực tiếp đứng máy tuốt lúa, chân đạp cần máy, tay cầm bó lúa xoay tròn, tiếng máy tuốt lúa quay tròn kêu vù vù, những hạt lúa còn đẫm nước văng tung tóe vào tấm bạt chắn trước máy. Từng đống lúa vun  cao dần lên, được đóng vào bao tải, đưa lên xe cải tiến  kéo về sân kho của Công xã. Tôi còn nhớ, do cắt lúa chưa quen tôi cắt liềm vào ngón tay út, bổ đôi móng tay, máu chảy lai láng. Nhưng khi được băng bó thấy mọi người làm việc hăng say, vui vẻ tôi lấy mảnh nilon buộc chặt ngón tay cho khỏi ướt và tiếp tục công việc, quên sự đâu đớn. Đó là đợt lao động thực tế cuối cùng của chúng tôi trước khi Trường Mùng 2 tháng 9 tạm biệt Quế Lâm  và thầy trò chúng tôi về lại Việt Nam vào tháng 8 năm 1975. Đó cũng là lần đầu tiên chúng tôi thấy chiếc máy tuốt lúa đạp bằng chân, với năng suất tuốt lúa gấp nhiều lần so với cầm từng bó lúa đập như người nông dân quê tôi. Chính cái máy đó sau này chúng tôi thấy phổ biến trên cánh đồng ở Việt nam đã  góp phần giải phóng đáng kể sức lao động của người nông dân một thời. 
       Đợt gặt lúa chống úng năm đó dù dầm nước mưa rét run, mệt mỏi, nhưng chúng tôi ai nấy đều rất vui, vì thầy trò chúng tôi đã góp sức mình cùng bà con xã viên công xã thu hoạch, tránh cho lúa khỏi bị hư thối do ngập úng nước mưa. Chúng tôi cũng đã học tập được tinh thần lao động cần cù của những xã viên công xã và hơn hết, chúng tôi được trải nghiệm có ịch qua lao động thực tế. Mỗi một kỷ niệm vui, buồn với tuổi thơ chúng tôi những năm sống ở Quế  Lâm đều nằm trong hành trang theo chúng tôi suốt cả cuộc đời này.


            
Viết lại theo yêu cầu của Quế L H, Đăng lại lên đây để các Quế duyệt. Kính! CC

Thứ Hai, 1 tháng 6, 2015

Thứ Tư, 27 tháng 5, 2015

TRẬN TẬP KÍCH NÔNG TRƯỜNG CAM

             
             Lời tác giả:    Đây là bài viết dự định gửi đăng trong Tập san “Những kỷ niệm của học sinh Việt Nam tại Quế Lâm” (tôi phán đại không biết có đúng không?) theo đơn đặt hàng của Quế LĐT. Trên cái sườn câu chuyện do Quế LQĐ kể lại và những kỷ niệm đã trải qua thời ở Quế Lâm, TGTB viết lại.  Kính mong các ông bà Quế chịu khó đọc và góp ý cả nội dung và hình thức. Có thể chỉnh sửa theo ý của mình và ghi lại ở mục Nhận xét, để TGTB hoàn chỉnh nộp bài cho Quế LĐT

       Sau Tết  âm lịch là tháng đầu của mùa xuân, mùa đẹp nhất trong năm, nhóm bạn Học sinh Miền nam Quế Lâm ngày trước bây giờ đứa trẻ nhất cũng đã trên 50 tuổi, người lớn thì cũng đã xấp xỉ tuổi 70, thường chọn một ngày chủ nhật đẹp trời, tụ tập với nhau để ôn lại những kỷ niệm của một thời xa nhà khi đất nước chiến tranh loạn lạc.
        Mùa xuân Đà Nẵng, một thành phố trung tâm của miền Trung Việt Nam, trời đã bắt đầu có nắng ấm, mặc dù sáng sớm vẫn có những cơn mưa phùn lất phất như lưu luyến cái giá rét của mùa đông qua. Nhớ lại khi ở Quế Lâm, sau Tết thời tiết vẫn còn rét lắm, mọi người phải dùng quần áo bông để chống lại cái lạnh buốt thấu xương. Khoảng tháng Hai, tháng Ba âm lịch trời mới bắt đầu có nắng ấm. Hoa đào lác đác trước đó lúc này mới nở rộ. Đồi hoa đào nằm giữa khu trường chúng tôi trở thành một cánh rừng đầy hoa . Được từ trên cao nhìn xuống đồi đào như một tấm thảm hoa màu hồng nhạt, nổi bật trong nắng sớm phản chiếu những giọt sương mai long lanh, làm bọn trẻ con chúng tôi say mê nhìn không biết chán. Chúng tôi ngồi nhớ lại những mùa xuân Quế Lâm sống xa nhà nhưng được yêu thương, che chở đầy ắp tình người…
  Đa số chúng tôi là người miền Nam, có bố mẹ hoặc đã hy sinh hoặc đang tham gia cuộc kháng chiến để giành lại hòa bình, độc lập, thống nhất đất nước. Chúng tôi đến Quế Lâm từ vùng đồng bằng tới vùng núi cao, với nhiều dân tộc sinh sống trên đất nước Việt Nam. Do hoàn cảnh chiến tranh nên hầu hết chúng tôi không được đi học đúng tuổi, nhiều bạn lớn tướng rồi nhưng cũng chỉ học tiểu học, thậm chí chưa biết chữ. Chúng tôi ra sức học ngày, học đêm như để bù lại những ngày tháng không được đi học (trừ những bạn học đúng độ tuổi). Tuy nhiên, là học trò chúng tôi cũng không thiếu những trò nghịch ngợm, mà đến giờ này khi đã trưởng thành nhìn lại, nhiều lúc vẫn còn những nỗi ân hận khôn nguôi…

Thứ Sáu, 23 tháng 1, 2015

CỖ MÁY HAY LÀ TÒA THIÊN NHIÊN


QUÀ QUẾ CHO NGÀY THỨ BẢY

214

CỖ MÁY


                                   Thái Bá Tân


Henry Ford, người Mỹ,

Vua ô tô trước đây.

Chết, được gặp Thượng Đế.

Ông bảo Ngài thế này:


“Ngài là đấng sáng tạo,

Nhà thiết kế tài ba,

Nhưng có cái không ổn,

Khi tạo ra đàn bà.”


Thượng Đế nghe, khó chịu,

Nhưng phục thiện, nên Ngài

Bảo ông cứ nó thẳng

Thiết kế có gì sai.


“Vâng, rất nhiều khiếm khuyết

Trong sản phẩm đàn bà.

Phía sau phồng quá lớn.

Phía trước quá nhô ra.


Máy của nó ồn quá

Khi tài xế phóng nhanh.

Tiêu thụ nhiên liệu khủng.

Khủng cả tiền bảo hành.


Bơm xăng và ống xả

Lại ở quá gần nhau.

Mỗi tháng mấy ngày nghỉ

Vì máy cứ chảy dầu.


Hai đèn trước quá bé.

Phía sau không có đèn.

Liên tục đòi sơn mới,

Chủ phải tốn nhiều tiền…”


Thượng Đế nghe, cho gọi

Các kỹ sư của Ngài.

Họ kiểm tra, xác nhận

Quả đúng thế, không sai.


Ngài buồn, rồi lên tiếng:

“Cái máy ấy nói chung

Quả còn nhiều khiếm khuyết,

Nhưng với người tiêu dùng


Thì nó là loại nhất.

Trăm phần trăm đàn ông

Thích và muốn dùng nó.

Dẫu tốn tiền, đúng không?


Trong khi, theo ta biết,

Chưa đến một phần mười

Đàn ông trên thế giới

Bỏ tiền mua xe hơi.”











Thứ Ba, 13 tháng 1, 2015

Các Quế và cựu HSMN thắp hương Thầy BÙI QUANG TẠO (1929-2015) ở đây!




Thầy Bùi Quang Tạo quê ở H Trà Bồng , T Quảng Ngãi. Mùa Hè năm 1974, thầy thôi làm Hiệu phó Trường HSMN số 1 Đông Triều , Quảng Ninh sang QL làm Hiệu trưởng Trường CII NVB, Khu GDHSMN QL TQ và là HT cuối cùng trước khi trường CII NVB giải tán. Tôi là lớp nhớn cuối cùng, về nước sau cùng với thầy khi giải tán trường CII NVB tháng 8-1975. Tôi vẫn nhớ như in hình ảnh thầy nhảy múa, reo hò cùng lũ học trò xa xứ chúng tôi khi nghe tin SG giải phóng, MN hoàn toàn giải phóng. Trong nước mắt dàn dụa vì vui mừng, thầy hét vang: " Các con ơi, MN mình giải phóng rồi...Chúng ta sắp được về quê rồi...!!!"
Những năm sau này, chúng tôi lũ Quế ĐNa lại được sống cùng thp với thầy. Vẫn gặp thăm hỏi thày trong nhiều dịp gặp mặt. Thầy phúc hậu như ông tiên với nụ cười hiền từ. (Ngày trước chúng tôi, hs cII NVB đời cuối rất sợ và nghe lời thầy răm rắp, thầy là người cha uy nghi của chúng con). Tuần trước, các bạn HSMN vừa đến chúc thọ thầy, MTr (SG) gởi "bức Khánh" ( lời chị Tuyết-ĐN) Chúc thọ Thầy, thầy vui lắm. Thầy còn tiễn các anh chị khi ra về, thế mà nay thầy đã ra đi...
Một nén nhang chúng con cuối đầu lạy thầy, người thầy đã giành phần lớn đời dạy học cho lũ chúng con những HSMN trên đất Bắc!

Thứ Hai, 12 tháng 1, 2015

TIN BUỒN.

Thầy giáo BÙI QUANG TẠO,
Nguyên Phó Hiệu trưởng Trường HSMN số I Đông Triều, Quảng Ninh.
Nguyên Hiệu trưởng Trường CII NVB - Khu GDHSMN Quế Lâm, TQ (Năm học 1974-1975).
Do tuổi cao sức yếu đã từ trần ngày 11 tháng 01 năm 2015 (21-11 AL), tại nhà riêng  Quận Thanh Khê, Tp Đà Nẵng.

 TGTB Kính báo!

Hội Quế Đà Nẵng tối nay Thứ Hai , ngày 12 tháng 01 năm 2015, lúc 19 h sẽ đến viếng Thầy.
Địa điểm tập trung: trước trụ sở Công an Quận Thanh Khê, tp Đà Nẵng






Ngày 19 tháng 11 năm 2014, Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng Văn Hữu Chiến (cựu HSMN ĐT) thăm tặng quà và tặng hoa thầy Bùi Quang Tạo nhân ngày Nhà giáo Việt Nam 20 tháng 11.

Chủ Nhật, 4 tháng 1, 2015

Thứ Tư, 31 tháng 12, 2014

TIỄN NĂM 2014, ĐÓN NĂM 2015!









HÃY KIÊN CƯƠNG NHƯNG CŨNG PHẢI VỊ THA, VÌ TA LÀ QUẾ, LÀ HSMN VÀ TA KHÔNG PHẢI CHỈ MÌNH TA, BÊN TA LUÔN CÓ NHỮNG NGƯỜI THÂN YÊU, DÙ Ở GẦN HAY Ở XA, NÀO QUẾ ƠI HÃY CẤT TIẾNG CA!

Thứ Hai, 29 tháng 12, 2014

Chuyện nhặt ở 60 năm HSMN




Chuyện thứ nhất:

Đang tán dóc với một trong những "ông Tây" Mơ-nông thì có một đại ca HSMN hỏi: Các em ở Quảng Nam có biết có anh nào là anh Tốt, cỡ tuổi anh không?  Hỏi lại: Anh hỏi về HSMN à?  Đáp: Đúng rồi HSMN, anh ấy học lớp anh. Anh ơi, chắc anh nhầm, HSMN làm chi có tên nào tên là Tốt, chắc lỡ trước đây tên Tốt thì giờ chắc đổi tên hết rồi. Đại ca: !!!. Tây Mơ-nông: anh đừng nghe nọ, thằng này anh hỏi nghiêm, mày lại...Đại ca: Ha, ha!!!

Câu chuyện thứ hai: 

  Gặp một chú trước công tác ở Cục I (Cục Quản lý HSMN - Bộ Giáo dục), chú hỏi: Cháu qua Quế Lâm năm nào?  Dạ cháu sang QL năm 1970. Như thế là năm đó cháu học cấp I NVB. Mày mà sang năm 1969 thì chú cho mày học trường cấp I Dân tộc TƯ rồi. Là sao chú? Chuyện là hồi năm 1969 chú được lãnh đạo giao nhiệm vụ dẫn đoàn các cháu thiếu nhi Miền Nam ở T64 và ở Đông Triều qua Quế Lâm, khi tiếp xúc với các cháu, chú là người Miền Bắc nên nghe các cháu nói mười tiếng thì chỉ hiểu được hai tiếng Kinh còn lại tiếng dân tộc nên chú không hiểu gì cả. Nên khi qua đến Quế Lâm mấy cô chú nhận bàn giao chú nói là các cháu là dân tộc Tây  nguyên nên đề nghị đưa qua trường cấp I Dân tộc để dạy tiếng Kinh theo cấp độ ưu tiên cho dân tộc ít người. Sau khi các cháu nhập trường chuẩn bị vào năm học mới thì mới phát hiện có sự nhầm lẫn. Do đoàn chú đưa đi các cháu  hầu hết là quê ở Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam-Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa... nên nói năng chú có hiểu gì đâu, nên tưởng tụi bay là dân tộc Tây Nguyên. Vụ đó chú bị kỷ luật do không hoàn thành nhiệm vụ, nhưng lại có kỷ niệm nhớ đời. Từ năm sau thì người khác thay chú dẫn tụi bay nên không còn nhầm lẫn nữa...
Quế qua năm 1969 tôi biết có HHP, HTT, TCT...Không tin hỏi HHP coi!

Thứ Tư, 24 tháng 12, 2014

THĂM CÔ GIÁO CHỦ NHIỆM Trường Cấp I Nguyễn Văn Bé

Điện thoại cho cô hỏi thăm cô có lên Hà Nội "60 mươi năm trường HSMN" không? Cơ bản là chiều thứ 6 (12/12) gặp mặt thầy trò Quế Lâm? Cô nói: Cô sẽ cố gắng đi,  nhưng sức khỏe không biết thế nào. Chuẩn bị bay ra thì điện lại cho cô, Cô ốm. Cô nói mấy đứa có về thăm cô được không? Để bọn em sắp xếp. Cân nhắc giữa việc theo về Đông Triều (thực sự thì chỉ quá cảnh ĐT có mấy ngày trước khi về Nam chứ có học ở đó đâu mà trường cũ với những kỷ niệm, kỷ niệm xưa ở Quế hết rồi) và về Hải Phòng thăm cô, triệu hồi được 7 tên, có 6 tên hs cô chủ nhiệm từ lớp 1-3 và Hồng Hạnh - Quảng Trị tuổi nhỏ lớp to, sau này đội này học vượt rồi cùng 7H (74-75). Sau khi giải quyết cho 2 nữ đc ở miền núi Phú Yên gần 40 năm mới ra lại Thủ đô vào viếng HCT, chúng tôi nhằm hướng Hải Phòng phi. Qua Hải Dương được các đc CSGT luộc mất 2 chai, kiên quyết không cho nó thoát dù đã nói tiếng MN năn nỉ ỉ ôi. Hơn 12h, chúng đến Tiên Lãng, HP. Cô và cả gia đình đã chờ đón chúng tôi từ ngoài đường. Tôi trong những chuyến công tác  phía Bắc đã về nhà cô 2 lần nên làm nhiệm vụ dẫn đường. Gặp nhau cô trò ngỡ ngàng, cô và các nữ đc nước mắt tuôn trào làm chúng tôi cũng rưng rưng. Hai lần trước tôi về thăm cô còn chú, chú không nhậu được nhiều nhưng chú cứ bắt tôi phải làm tí cay cay, nay chú đã đi xa, một nén nhang tưởng nhớ người đã khuất. Năm 2000, lần đầu tôi ghé thăm cô chú, đưa cô vào Đà Nẵng chơi gần 1 tháng, lúc đó trông cô còn nhanh nhẹn. Nay gần 15 năm, trông cô yếu đi nhiều, cô nói đã 73 tuổi. Bà con xóm giềng chia vui cùng cô, bà giáo già có nhiều "ông học trò MN'' to như ông Tây đến thăm, một điều thưa cô, hai điều thưa cô, có ông còn xưng con với cô nữa, họ cứ trố mắt ngạc nhiên. Bảy học trò về thăm cô  có: 2 nữ Y sĩ, 1 nữ Hiệu trưởng trường Tiểu học, 3 người làm doanh nghiệp và 1 sĩ quan an ninh. Tiệc cô giáo tiếp học trò có bia rượu, thịt cá nhưng thích nhất là rau miền Bắc mùa Đông phong phú. Nói với con gái cô (cô có hai người con, con gái dạy trung học, con trai dạy Đại học): Các em cũng có học trò, nhưng sẽ chẳng bao giờ có được tình cảm thầy trò như tình cảm Mẹ - Cô giáo  và các anh chị - Học trò. Vì rằng mẹ các em không chỉ là cô giáo đơn thuần như các em với học trò mà còn là cha, là mẹ, là anh chị, là bạn bè...của các anh các chị, cả tuổi trẻ đã hy sinh vì các anh các chị, vì Miền Nam thân yêu...Mấy em cố chăm mẹ khỏe, để hè tới các anh chị mời mẹ vào thăm chơi MN, giờ các anh chị nhiều người đã nghỉ hưu nên cũng có thời gian, những năm trước còn bận bịu. Cô ơi, gắng khỏe cô nhé, chúng em lại đưa cô thăm thú quê hương chúng em, gặp lại nhiều học trò mà cô hằng yêu quý. Vẫn mong có ngày lại được đón cô vào Nam!!!


Thứ Ba, 23 tháng 12, 2014

CHỘP VỘI AI TRÒ AI THẦY CÔ?




Tôi cầm ĐTDĐ và lia tới số cố ghi lại những khuôn mặt thân quen, ham quá, vui quá kẹp thế nào đt hết pin. Tôi đã chuẩn bị ăc-qui nhưng lại để quên ở nơi ở NKQH, nên phải taxi về lấy ăc-qui không được thưởng thức các tiết mục văn nghệ của Quế nên không có tấm hình nào về các diễn viên Quế, thật tiếc.




H1: Từ trái sang: cô Trâm vợ thầy Từ, cô Nồng Y tá - Bệnh xá, cô..., cô Bình - vợ thầy Xã, cấp dưỡng CI NVB.

H2: Từ trái sang: cô Hồng bảo mẫu CI NVB, cô Dung - VP BGĐ Khu GDHSMNQL, cô Liên bảo mẫu CINVB...

Thứ Hai, 22 tháng 12, 2014

LỜI CHÚC MỪNG!

Nhân dịp 70 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944 - 22/12/2014) kính chúc các Phụ huynh, các cựu HSMN, các Quế là cựu binh, là quân nhân sức khỏe dồi dào giữ vững truyền thống Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, góp phần xây dựng Quân đội chính quy, hiện đại, bảo vệ vững chắc nền hòa bình của Tổ quốc Việt Nam thân yêu!

Cách cắm hoa đẹp rực rỡ trang trí nhà mình

Thứ Hai, 13 tháng 10, 2014

CHÚC MỪNG NGÀY DOANH NHÂN VIỆT NAM!








 Chúc các Quế Doanh nhân như con chim : Hoa nào thơm ngọt thì ta "chíp chút" (H1), Lựa hoa nào dễ rơi để nhặt cánh hoa rơi (H2), nhặt không kịp thì dùng ngay hoa loa kèn để ...hứng, Quế DN nâng ly nhé! Các Quế khác "ho"  chúc mừng đi!

Thứ Hai, 29 tháng 9, 2014

Một trong nhiều niềm Hạnh phúc mà tôi có.


MẸ .
Đi công tác điện thoại về gặp mẹ hỏi thăm sức khỏe của bà. Sau khi kể về đau xương khớp, nhức mỏi cả người (bệnh người già và di chứng hai cuộc chiến tranh), kể về việc bà lau nhà trượt gãy...cái cán chổi lau, may thật. Càm ràm bà cứ lay hoay làm việc nhà, bà chỉ cười.
Chốt: Mi đi công tác hơn 20 ngày rồi đó , đợt này đi lâu rứa con?...
Công việc chưa xong má ơi.
Ôi mẹ tôi, tôi thì không nhớ đã đi khỏi nhà bao nhiêu ngày rồi, còn bà thì đếm từng ngày. Tôi gần 60 tuổi dưới mắt bà tôi vẫn là thằng con cần che chở. Có lần bà nói tôi: Mi là thằng ngu con ạ. Tôi khoái nhất câu này bà nói với tôi. Mà thật tôi ngu thật trong cuộc chơi ĐỜI này. Ngu thật đấy, mẹ chửi ngu vô tư, nhưng ai chửi tôi ngu thì cẩn thận chút.

CON GÁI.
Con gái điện thoại: Kể chuyện học hành, chuyện nhà... Ba ơi đợt này ba đi lâu thế.
Công việc cuối đợt đang gấp tiến độ chưa về được.
 Nó nói: Hồi con còn nhỏ ba đi công tác mấy tháng mới về, con không biết. Từ khi con nhận thức được thì lần này là lần ba đi lâu nhất...
Ôi con gái tôi, 19 tuổi, thiếu nữ, với tôi nó vẫn cứ là bé con. Thiếu vắng "đồng minh" lâu, cảm thấy "yếu một cách toàn diện" nên ngõ lời cầu cứu "đồng minh" đây.
Nhiều câu trả lời cho câu hỏi: Hạnh phúc là gì?
Với tôi đang đi xa nhà, được Mẹ và Con gái quan tâm, mong về, tôi thấy thật hạnh phúc!

TCD viết từ vùng Tây Phú Yên.

Viết thêm:
Bài này để ở fa và nhận được các bình luận:
Bạn nói không công bằng..., còn người nữa đâu?
 Mình trả lời: Nỗi nhớ mong kia chỉ hai người, nói ra đây ngại lắm, nếu có nói ra thì phải nói nhiều...
Bạn nói: Người đó không nhắc đến nhưng ai cũng biết, Người đó vừa là mẹ ta vừa là bé nhỏ của ta đó...
Và rồi Người đó lên tiếng: Có nhất thiết nhớ là nói là nhớ không??? Nếu thế thì người ở nhà cũng mong người đi công tác nói "NHỚ - NHÀ"
Và cuối cùng mình lại cọp lại ý của Người đó: Có nhất thiết nhớ là nói là nhớ không???