Hiển thị các bài đăng có nhãn Tư liệu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tư liệu. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 9 tháng 9, 2016

Nhớ ngày 9/9/1969

"Bác bắt đầu lâm bệnh ngày 12/8/1969. Hôm ấy, trời Hà Nội đã vào thu, se lạnh. Hay tin phái đoàn nước ta từ cuộc đàm phán Paris về, Bác chủ động đến thăm, làm việc.
Đến ngày 28/8, sức khỏe của Bác bắt đầu suy giảm nghiêm trọng, từ nhà sàn Người phải chuyển xuống tầng trệt. Tuy vậy Người vẫn không ngừng lo toan cho vận mệnh quốc gia, cho cuộc sống của nhân dân…
Đương khi nước sông Hồng dâng cao, sợ cơn lũ có đột biến, các đồng chí gần gũi chăm sóc ngỏ ý muốn đưa Bác tới nơi an toàn, nhưng Bác nói: “Tôi không thể xa dân”.
Các vị lãnh đạo Đảng lúc ấy hằng ngày túc trực bên giường Bác. Đại tướng Võ Nguyên Giáp mỗi ngày vào thăm Bác ba lần. Trong cuốn sổ tay, đại tướng ghi rõ từng ngày:
- 24/8/1969 trở đi Bác mệt nặng.
- 26/8/1969: Khi vào thăm, giơ tay chào, Bác chào lại rồi bảo: “Chú về nghỉ”.
- 28/8/1969: Buổi chiều Bác hỏi việc chuẩn bị Quốc khánh 2/9 và dặn đồng chí Phạm Văn Đồng tổ chức lễ kỷ niệm cho thật vui, thật tốt. Tối có bắn pháo hoa nữa."
 
Không còn nhớ rõ ngày nào, Khu Giáo dục Học sinh Miền Nam Quế Lâm ai cũng lo âu khi nghe thông báo về tình hình sức khỏe của Bác Hồ và cầu mong Bác chóng bình phục.

Thứ Sáu, 13 tháng 5, 2016

Tư liệu về Khu Giáo dục Học sinh Miền Nam Quế Lâm và trường Nguyễn Văn Trỗi, bạn đã biết chưa?

TƯ LIỆU VỀ HSMN
_____
Báo cáo ngày 2. 2. 1967 về việc xây dựng Trường Học sinh miền Nam ở Quế Lâm (1)

Fond Phủ Thủ tướng, Hồ sơ 18054

Thứ Năm, 29 tháng 10, 2015

Nghĩ từ thần thoại

http://www.phunuonline.com.vn/the-gioi/nghi-tu-than-thoai-8493/


Biển xuất hiện rất sớm trong văn chương Trung Quốc. Thần thoại kể rằng: con gái nhỏ của Viêm đế đi chơi ở biển Đông (đông Trung Quốc) bị chết đuối, linh hồn hóa làm chim Tinh Vệ, ngày ngày ngậm cành cây, viên sỏi lấp biển.
“Tinh Vệ lấp biển” cùng với “Nữ Oa vá trời”, “Ngu Công dời núi” làm thành bộ ba thần thoại thể hiện ý chí kiên cường (vá trời, dời núi, lấp biển) của dân tộc Trung Hoa. Xưa nay, người Trung Quốc luôn tự hào ngợi ca hình tượng “Tinh Vệ điền hải” này.
Đến đầu thế kỷ XXI lại có bộ phim truyền hình Chuyện nàng Tinh Vệ ngợi ca ý chí lấp biển của con gái Viêm đế. Có thể họ muốn dựa vào ý chí Tinh Vệ để tiếp sức cho hành động đem đất đá ra lấp biển để làm đảo nhân tạo chăng?
Thần thoại là dạng nguyên hợp của tâm thức nhân loại buổi sơ khai. Thần thoại của mỗi tộc người thường, một cách tự phát, vẽ nên những đường nét cơ bản của tâm tính, cốt cách dân tộc mình.
Qua thần thoại “Tinh Vệ lấp biển” có thể thấy mấy “đường nét” chính:
- Con gái nhỏ của Viêm đế chết đuối ở biển đông. Chữ “nịch” (chết đuối) là một chữ hội ý gồm bộ “thủy” (nước) và chữ “nhược” (yếu), yếu trong nước...
- Nhưng lòng căm hận và ý chí của con gái Viêm đế không chết, quyết “lấp bằng biển xanh”.
Công bằng mà nói, ý chí ấy thật đáng nể.
Dân tộc Trung Hoa (gồm 56 dân tộc, trong đó dân tộc Hán chiếm 92%, tức hơn một tỷ người) vẫn tự xưng là “Viêm Hoàng tử tôn” (con cháu của Viêm đế và Hoàng đế). Qua sự sáng tạo, truyền tụng và tự hào về hình tượng “Tinh Vệ” có thể thấy “Con cháu Viêm Hoàng” úy kỵ và khước từ biển cả.
Sau thần thoại “Tinh Vệ lấp biển”, người Trung Quốc đã ứng xử thế nào với biển?
Người Trung Quốc vốn yên tâm và tự hào với “Tứ hải chi nội”.Mục “Tứ hải” trong sách Từ hải (Thượng Hải từ thư xuất bản xã 1993) nói rõ: “Vì đời xưa cho rằng bốn phía Trung Quốc là biển nên gọi Trung Quốc là “Tứ hải chi nội”, những nước ở ngoài Trung Quốc thì gọi là “hải ngoại”. (vậy nên thuế xuất nhập khẩu thường thu trên đất liền vẫn được gọi là “thuế hải quan”).
“Tứ hải chi nội” (thường nói tắt là “tứ hải” hoặc “hải nội”) là một cách nói phiếm chỉ, đồng nghĩa với từ “thiên hạ”. Cũng Từ hải nói rõ: “Thiên hạ: thời cổ dùng để chỉ đất đai trong phạm vi Trung Quốc; toàn Trung Quốc. “Thư - Đại vũ mô” (nói rằng): “Ta có bốn biển, làm vua thiên hạ” (Yêm hữu tứ hải, vi thiên hạ quân)” - (Từ hải - tr. 1378).
Vậy: “Tứ hải chi nội” (hoặc “tứ hải”, “hải nội”) = thiên hạ = Trung Quốc.

Người Trung Quốc gặp cái gì rộng lớn mênh mông hoặc sâu thẳm khó dò, hoặc nhiều không kể xiết .... thì gọi là “hải” (biển) để hình dung - chẳng hạn như “tuyết hải” (biển tuyết); “vân hải” (biển mây); “nhân hải” (biển người)... thậm chí rừng mà cũng nói “lâm hải” (biển rừng) và bộ từ điển vào loại có uy tín nhất của Trung Quốc được gọi là Từ hải (biển từ)...
Nhà thơ Trung Quốc đầu tiên thực sự nói đến biển là Tào Tháo (155 - 220), nhưng ông cũng chỉ “quan thương hải” (nhìn biển xanh) mà thôi. Thơ Trung Quốc ít nói về biển và biển thường chỉ xuất hiện trong “mộng”, “tưởng” hoặc trong tầm “nghe”, “nhìn”. Mãi đến cuối đời Tống (960 - 1279), khi nhà Nguyên của người Mông Cổ diệt nhà Tống, Tả thừa tướng Lục Tú Phu (1236 - 1279) cõng ông vua ấu thơ Đế Bính (vua cuối cùng của nhà Nam Tống) nhảy xuống biển tự tận. Nhà Tống mất, Trung Quốc bị người Mông Cổ thống trị trăm năm.
Thế giới, cuộc đời luôn vận động - biến dịch vô thường. Thời cổ, con gái Viêm đế từng “yếu trong nước”, nhưng “con cháu Viêm Hoàng” không mãi mãi “yếu trong nước” như vị “tổ cô” của mình. Sử sách còn ghi “trong khoảng 28 năm từ 1405 đến 1433, Trịnh Hòa (1371 - 1433) đã phụng mệnh triều đình nhà Minh, suất lĩnh đội quân hàng hải đông đúc, bảy lần “xuất sứ” đến hơn 30 nước và địa khu ở Á - Phi. Đây là một sự kiện quan trọng trong lịch sử hàng hải và ngoại giao Trung Quốc....”.
Nếu sử sách Trung Quốc ghi chính xác thì người Trung Quốc đi tàu viễn dương sớm nhất thế giới. Sở dĩ nói “nếu... chính xác” là vì: tuy các học giả, cả phương Đông và phương Tây, phần lớn đều thừa nhận Trung Quốc là “xứ sở của sử gia”, sách lịch sử của Trung Quốc nhiều vô địch, nhưng độ tin cậy không cao, cùng một sự kiện mà các sách ghi khác nhau khá nhiều (có thể hiện tượng này không chỉ xảy ra ở Trung Quốc).
Có lẽ việc Trịnh Hòa “hạ Tây dương” là có thật, và từ đời Minh (1368 - 1644) người Trung Quốc đã mở ra “con đường tơ lụa” trên biển, tàu buôn Trung Quốc đã từng đến Đại Việt nên người Việt ta mới gọi họ là “người Tàu”. Nhưng đến đời Thanh (1644 - 1911) họ lại coi thường (nếu không nói là “sợ”) việc đi biển. Đặc biệt đến cuối đời Thanh thì sự “dị ứng” với biển càng nặng, đến mức Từ Hi thái hậu (1835 - 1908), kẻ nắm đại quyền của triều đình Mãn Thanh đã “di dụng” kinh phí hải quân vào việc “trùng kiến Di Hòa viên” vì bà ta và đám đại thần nhà Thanh bấy giờ cho rằng “... Nước Trung Quốc ta toàn là đất liền thì dùng hải quân làm quái gì...”
Đại bách khoa toàn thư Trung Quốc ghi nhận: “Năm Quang tự thứ 21 (1892) bỏ hẳn “hải quân nha môn”. Di Hòa viên xây dựng gần 10 năm, chi phí khoảng sáu triệu lạng bạc”!
Khi liên quân tám nước (Anh, Pháp, Đức, Áo, Ý, Nga, Mỹ, Nhật) đổ bộ vào cảng Thiên Tân rồi chiếm Bắc Kinh, Từ Hi thái hậu cùng Quang Tự hoàng đế và đám đại thần dắt díu nhau chạy trốn vào Tây An. Liên quân tám nước phá Di Hòa viên, “qua phân” (mổ dưa) Trung Quốc.
Chính vì triều đình Mãn Thanh coi thường (thực chất là sợ) đi biển như thế nên Lương Khải Siêu (1873 - 1929) mới yên tâm thực hiện cuộc “viễn du” lánh nạn sau thất bại của cuộc “Duy tân 100 ngày” (bách nhật duy tân).
Nhờ có tàu “viễn dương” từ Nhật sang Mỹ mà vị lãnh tụ của phong trào cải lương không bị “nịch tử”, cũng không có ý “lấp biển” như Tinh Vệ. Biển giúp ông lánh nạn khi lục địa Trung Hoa dậy sóng. Ông yên tâm “tác viễn du” vì biết chắc triều đình nhà Thanh nhát gan bất lực không thể vượt biển sang Mỹ truy nã mình.
Thế giới biến dịch vô thường...


THƯỜNG NHIÊN

Chủ Nhật, 2 tháng 8, 2015

Về thăm trường, Khu Giáo dục HSMN Quế Lâm (trường mới) - cấp 2 NVB

5. Sân bóng trường NVB
Khuôn viên Khu Giáo dục HSMN Quế Lâm từ Google Earth
Khuôn viên của Khu bây giờ ba phía là các con đường lớn, có 2 sân bóng. Bên kia đường phía cổng Ban giám đốc Khu, trước đây là nghĩa trang của người TQ, giờ đã là khu dân cư đông đúc.

Thứ Hai, 15 tháng 6, 2015

Người giấu mẹ


KẺ GIẤU THẦY CÔ ?

Xuân Diệu và Bạch Diệp thời trẻ - Ảnh: TL
“Đố ai định nghĩa được tình yêu”
Tôi không thích gọi Xuân Diệu là “ông hoàng thơ tình” mà chỉ muốn gọi ông là “người bạn tình mà thơ không có… tuổi”. Và chính vì điều ấy tôi luôn giữ trong tâm hồn tôi những câu thơ của Xuân Diệu mà tuổi lò cò vụng trộm giấu mẹ ghi vội trong sổ tay:
Đố ai định nghĩa được tình yêu
Có nghĩa gì đâu một buổi chiều
Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt
Bằng mây nhè nhẹ, gió hiu hiu.
Cái thế giới thơ tình của Xuân Diệu từ len lén đến, rồi rung rèm cựa quậy cửa sổ, rồi đột nhiên nhẩy phóc chễm trệ vào tuổi 16 của tôi.
Nào là:
Hôm nay trời rộng lên cao
Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn
Nào là:
Yêu là chết trong lòng một ít
Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu
Cho rất nhiều nhận chẳng bao nhiêu


Với tôi, Xuân Diệu nói đúng quá, tình yêu không thể định nghĩa được, nói đúng hơn là không thể nắm bắt được.Tưởng vừa nắm trong tay đã tuột rồi, tưởng có tất cả lại trống không, tưởng tràn hạnh phúc lại nước mắt ly tan, tưởng như “tình yêu đến em không mong đợi gì” nhưng lại bồn chồn, nôn nao mong đợi. Đến nỗi một người bạn của tôi phải nói với tôi rằng, ông Xuân Diệu này chỉ được cái nói đúng, tớ đây yêu cả tá đàn ông rồi vậy mà trước một cuộc tình mới vẫn cảm thấy “tôi khờ khạo quá ngu ngơ quá, chỉ biết yêu thôi chẳng biết gì”. Tức là cứ yêu chẳng mảy may tính toán, chẳng khôn ngoan thả câu bắt bóng hoặc tinh ranh chơi trò mèo vờn chuột hoặc thực hiện… tình pháp: “theo tình tình phụ, phụ tình tình theo”.
“Làm sao sống được mà không yêu”
Gần đây trên nhiều mạng đem chuyện giới tính của ông Xuân Diệu ra mổ xẻ nào là có ông nhà văn nổi tiếng với cuộc phiêu lưu của chú dế mèn viết hồi ký kể tình… trai của ông nhà thơ, nào là nữ đạo diễn điện ảnh Bạch Diệp người từng là vợ duy nhất của ông nhà thơ tâm sự sự bất lực trên trường tình của ông, quả thật tôi không quan tâm, vì với tôi hình ảnh duy nhất của ông trong tôi là thơ tình của ông mà thơ tình thì vượt qua mọi giới tính.
Xuân Diệu đã hy sinh tất cả để quên cái thân xác của mình dâng hiến cho chúng ta những người được là chính mình để yêu thì chúng ta cũng nên để cái thân xác ấy của ông ngủ yên cùng bi kịch cuộc đời ông.
Đọc thơ tình của ông tôi cảm nhận ông không hề nói về các cuộc tình của ông mà hình như ông sinh ra chỉ với sứ mệnh duy nhất là nhập vào tất cả chúng ta để nói hộ chúng ta những nỗi lòng, những khát khao, những rạo rực và cả những khổ đau - những cung bậc kỳ diệu của tình yêu - trái ngọt nhất mà Tạo hóa ban phát cho con người. Đôi khi ông chân thành chia sẻ, an ủi với ai đó đang nẫu ruột vì sự chia ly, bằng những câu thơ mà có khi chẳng liên quan gì đến sự mất mát một cuộc tình.
Con đường nhỏ nhỏ gió xiêu xiêu
Lả tả cành hoang nắng trở chiều
Buổi ấy lòng ta nghe ý bạn
Lần đầu rung động nỗi thương yêu
Với lại:
Mây biếc về đâu bay gấp gấp
Con cò trên ruộng cánh phân vân
Chim nghe trời rộng giang thêm cánh
Hoa lạ chiều thưa sương xuống dần
Ai đó đã nhận được thông điệp cuối cùng ông gửi qua câu thơ: Chim nghe trời rộng giang thêm cánh để rồi lòng òa ra chan chứa để lại lên đường như chim giang thêm cánh đến những chân trời yêu mới mẻ cùng câu thơ định mệnh của ông:
Làm sao sống được mà không yêu
Không nhớ, không thương một kẻ nào?
Tôi hiểu rằng nhiều khi ông không dám đối diện với chính mình, không dám phút giây nào đó nhập vào thân xác của ông để cất lên tiếng nói của thân xác ấy và đó chính là bi kịch cuộc đời ông. Tôi nghĩ ông đã hy sinh tất cả để quên cái thân xác của mình dâng hiến cho chúng ta những người được là chính mình để yêu thì chúng ta cũng nên để cái thân xác ấy của ông ngủ yên cùng bi kịch cuộc đời ông.
Vâng, lúc này trong tôi chỉ còn vang lên câu thơ mà ông nhập vào người kỹ nữ để nói lên khát vọng yêu của chính ông - một tình yêu dữ dội mãnh liệt không bến bờ cùng tiếng thét “Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào người”của ông:
Khách ngồi lại cùng em trong chốc nữa
Vội vàng chi trăng sáng quá khách ơi
Đêm nay rằm, yến tiệc sáng trên trời
Khách không ở lòng em cô độc quá.
Trong chúng ta ai hiểu ông để lúc ông cần nhất có mặt bên ông chia sẻ cùng ông, an ủi cho ông? Thật bất công với ông một nhà thơ luôn có mặt bên chúng ta, khi chúng ta đớn đau hay hạnh phúc.
Xuyến Chi

Thứ Ba, 16 tháng 12, 2014

NHẬT KÝ HÀNH TRÌNH (tiếp theo)


VỀ ĐÔNG TRIỀU, QUẢNG NINH (13/12/2014)

Thầy Chi ngày 12/12
Ngày 13/12/2014, đêm hôm trước đã hẹn về lại Đông Triều, “đến góc phố Đội Cấn, Ngọc Hà, tụi tao đang đứng ở đây”, nhiều người đến đây, sắp hàng vào viếng Lăng, vẫn nghĩ là nơi xe đi Đông Triều ở đây. Xuống taxi, loanh quanh đổi tiền lẻ trả taxi, “đến chưa, tụi tao đang đứng ở 19 Ngọc Hà, đến liền đi”, loay xoay cũng có tiền lẻ để tra taxi, “đang ở đâu, sao không thấy?”, “đi taxi lại Trần Phú, xe đi Đông Triều đang ở đó”, lại phải vội vàng đi qua Lăng Bác, tìm xe đi Đông Triều. Trước nhà Quốc hội mới xây thật hoành tráng, thấy dãy xe Mai Linh đứng một hàng dài, “xe đi Hà Tây, xe đi Đông Triều ở gần Phủ Chủ Tịch”, ở đó rất nhiều xe Mai Linh, kìa mấy xe lần lượt chạy rồi, không biết mình có đi Đông Triều được không đây?

“Xe đi Quảng Ninh phía này, cứ lên xe nào còn chỗ”, đang muốn tìm xe có mấy đứa cùng lứa để tán chuyện cho xôm, “xe này hết chỗ rồi, lên xe phía sau”, “xe này còn mỗi một chỗ”, xuống xe hơi thất vọng, may nhà tài trợ Mail Linh điều thêm một xe 25 chỗ (đáng ra đi Phủ Lý) đi Quảng Ninh, xe cuối cùng, xe số 7 (chẳng thấy số 7 đâu cả), lên xe yên vị, mấy chị Xuân Thanh, Thanh Thảo, Ngọc Khánh ào lên xe, “không đi Hải Phòng nữa vì họ nói chỉ đi vòng quanh Hải Phòng”, rồi xe lại lấp đầy nhanh chóng, thiếu chỗ, toàn người đã cao tuổi, đứng trên 80 km làm sao đi được, thầy Lượng “thôi xuống, không đi nữa”, “tụi tao cũng không đi”, xe lại trống nửa xe, phía dưới ĐHB, chị ĐTLý mấy người nữa chưa có xe đi lại ào lên xe, dư 3-4 nghế, xe khởi hành, chạy ra Hoàng Diệu, hướng ra Bến Nứa – cầu Long Biên rồi đi về cầu Vĩnh Tuy. Đoàn xe chạy theo hướng Bắc Ninh, qua huyện Quế Võ, đi Phả Lại, Sao Đỏ, Chí Linh về Đông Triều, đúng tuyến năm 2013 mình về trường. Xe đi Đồng Triều, Quảng Ninh đến địa phận Quảng Ninh có xe cảnh sát dẫn đường, các ngã ba, tư có cảnh sát hướng dẫn ưu tiên.

Thứ Năm, 22 tháng 8, 2013

Thông tư chiêu sinh vào trường HSMN niên khóa 1958-1959


BỘ GIÁO DỤC******
VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 08-TT
Hà Nội, ngày 15 tháng 03 năm 1958


THÔNG TƯ
VỀ VIỆC CHIÊU SINH VÀO TRƯỜNG HỌC SINH MIỀN NAM NIÊN KHÓA 1958-1959
BỘ TRƯỞNG BỘ GIÁO DỤC

Kính gửi: UBHC các liên khu, khu, thành phố Khu Giáo dục Liên khu 4, Việt bắc, Liên khu 3
               Sở Giáo dục Hà-nội, Hải-phòng
               Ty Giáo dục các tỉnh

Thông tư 115-TTg ngày 27-3-1957 của Thủ tướng Phủ có nhấn mạnh: “Việc xét thu nhận học sinh vào trường học sinh miền Nam hay xét trợ cấp sinh hoạt phí có trang phục hay không có trang phục căn cứ vào các tiêu chuẩn nhưng chủ yếu là tùy theo khả năng tài chánh, mức độ chiêu sinh của từng niên khóa mà giải quyết”.
Theo tinh thần trên và căn cứ vào nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế, văn hóa hiện nay, dựa vào khả năng tài chính và xây cất trường trại, vấn đề chiêu sinh trong niên khóa 1958-59 cần phải hạn chế trong một mức độ nhất định. Do đó không nhất thiết mọi trường hợp có đủ tiêu chuẩn đều được xét giải quyết.
I. – NHỮNG TRƯỜNG HỢP XÉT GIẢI QUYẾT CHIÊU SINH TRONG NIÊN KHÓA 1958 – 1959.
1. – Cán bộ quê quán miền Nam có đủ tiêu chuẩn nhưng từ trước nay chưa có một con nào được Chính phủ đài thọ để đi học bất kỳ là ở đâu (trong trường học sinh miền Nam ở các nước bạn, học trường ngoài có trợ cấp sinh hoạt phí, các trường chuyên nghiệp hoặc đại học…) thì nay được xét giải quyết một con. Nếu trường hợp đông con (từ 4 cháu trở lên) tình cảnh sinh hoạt khó khăn chật vật mà trước nay mới được giải quyết một cháu thì nay có thể xét trợ cấp thêm một cháu nữa. Đối với anh chị em thương binh, bộ đội phục viên, cán bộ công nhân viên miền Nam ra khỏi biên chế về sản xuất, ở trong trường hợp trên thì có thể xét giải quyết ưu tiên trước.
2. – Cán bộ miền Nam hiện đang công tác đặc biệt có sự chứng nhận và giới thiệu của Ban thống nhất trung ương, con các liệt sĩ (quê miền Nam và đã hy sinh trong Nam) có đủ chứng từ hợp lệ thì xét từng trường hợp mà giải quyết có chiếu cố thích đáng.

Lịch sử trường học sinh miền Nam trên đất Bắc (1954-1975)



VIỆN KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM (VNIES)

Nhóm nghiên cứu: CNĐT- PGS.TS.Nguyễn Tấn Phát; Thành viên- Võ Xuân Đàn; TS.Hà Minh Hồng; TS. Phan Đình Nham; TS. Phan Thị Xuân Yến.

Thời gian thực hiện: Từ 09/2006 đến 09/2008.


Mục tiêu nghiên cứu: 1/Khẳng định tầm nhìn chiến lược sáng suốt của Đảng, Bác Hồ; công lao to lớn của Đảng, Nhà nước và đồng bào miền Bắc vì miền Nam ruột thịt, trong hàng chục năm đã nuôi dưỡng giáo dục học sinh miền Nam thành một đội ngũ những cán bộ cách mạng thuộc nhiều lĩnh vực phục vụ cho sự nghiệp kháng chiến trường kỳ chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc và xây dựng miền Nam, xây dựng đất nước sau khi hòa bình lập lại; 2/Khẳng định mô hình đào tạo của trường học sinh miền Nam trên đất Bắc là một mô hình đặc biệt với hiệu quả đặc biệt: đã thực hiện việc nuôi dạy và đào tạo con em miền Nam trên đất Bắc theo nguyên lý giáo dục xã hội chủ nghĩa với nhiều ưu việt cả về nội dung và phương thức đào tạo, trong hòan cảnh đất nước bị chia cắt làm hai miền và chiến tranh ngày càng ác liệt trên cả hai miền Nam-Bắc; 3/Khẳng định vai trò và công lao to lớn của đội ngũ cán bộ, thầy cô giáo trong các trường học sinh miền Nam đã đào tạo rèn luyện một đội ngũ cán bộ cho miền Nam sau ngày giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc. Khẳng định tinh thần vượt khó, ý chí quyết tâm, nỗ lực học tập, cố gắng rèn luyện, tu dưỡng, tinh thần tự quản, đoàn kết, phấn đấu bền bỉ của hàng vạn con em miền Nam trên đất Bắc để xứng đáng với công lao và lòng mong đợi của Đảng, Chính phủ, Bác Hồ và nhân dân, trở thành những công dân và cán bộ cốt cán của đất nước; 4/Từ đó rút ra những bài học thực tiễn của lịch sử cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo hiện nay; đặc biệt là những kinh nghiệm bổ ích từ những thành công và chưa thành công trong việc nuôi dạy và rèn luyện một lớp người thừa kế sự nghiệp cách mạng của Đảng, phục vụ cho công cuộc kiến thiết và chấn hưng đất nước hiện nay, đảm bảo cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Nhiệm vụ nghiên cứu: Công trình ngoài kết luận, phụ lục có 3 phần nội dung chính: 1/Phần I -Quá trình hình thành phát triển hệ thống trường học sinh miền Nam (1954-1975); 2/Phần II -Hoạt động nuôi dưỡng và đào tạo của các trường học sinh miền Nam trên đất Bắc (1954 - 1975); 3/Phần III -Thành quả và bài học.