Thứ Năm, 7 tháng 7, 2016

Nhà giáo nhân dân Lê Phú Lộc: Người cả đời đồng hành với nền giáo dục cách mạng Việt Nam

Thầy trò bên nhau 

.
Nhà giáo nhân dân Lê Phú Lộc bắt đầu đứng trên bục giảng của nhà trường cách mạng từ năm 1948, trong vùng tự do Liên khu 5. Theo sáng kiến của đồng chí Phạm Văn Đồng - đại diện Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa tại miền Nam Trung Bộ, Trường Trung học Bình Dân miền Nam Trung Bộ được thành lập tại huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi và khai giảng niên khóa đầu tiên vào ngày mồng 6 tháng 9 năm 1947.
Rời cơ quan Tỉnh ủy Quảng Nam-Đà Nẵng theo sự điều động của tổ chức, người đảng viên Lê Phú Lộc, với hành trang chủ yếu là trình độ học vấn tốt nghiệp tú tài, một trình độ đương thời có thể xem là quý hiếm, đã vào Quảng Ngãi dạy Toán tại trường trung học bình dân đầu tiên ở nước ta (trong số những đồng nghiệp dạy cùng trường với ông hồi ấy có nhà thơ Tế Hanh dạy Văn)… So với số đông học viên là cán bộ đi học, ông hãy còn rất trẻ, bởi khi đó ông mới 26 tuổi và mới được kết nạp vào Đảng đầu năm 1947.
Năm 1985, ông kể với người viết bài này rằng, đồng chí Phạm Văn Đồng - Hiệu trưởng danh dự của nhà trường từng động viên ông ngay trong những ngày đầu ông nhận nhiệm vụ thọ nhơn/trồng người cao quý này: “Giáo dục cũng là một mặt trận”. Câu nói như một mệnh lệnh chiến trường ấy đã luôn thôi thúc ông trong suốt quá trình mấy mươi năm đồng hành với nền giáo dục cách mạng Việt Nam. Sau một thời gian đứng lớp, ông được giao trọng trách Hiệu trưởng nhà trường cho đến khi Trường Trung học Bình Dân miền Nam Trung Bộ kết thúc nhiệm vụ lịch sử vào năm 1952. Có thể nói, Nhà giáo nhân dân Lê Phú Lộc sớm bộc lộ tố chất của một nhà quản lý giáo dục, sớm trở thành người đứng đầu đội ngũ thầy cô giáo trong trường học (trong 34 năm gắn bó với nghề, đã có 24 năm ông làm cán bộ quản lý giáo dục).
Nhà giáo nhân dân Lê Phú Lộc “có duyên” với cái ghế hiệu trưởng đến mức niên khóa 1954-1955, trước khi xuống tàu tập kết ra miền Bắc theo tinh thần Hiệp định Genève tháng 7-1954, ông còn được tổ chức phân công làm Hiệu trưởng Trường cấp hai huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Và ngay khi mới đến Hải Phòng vừa giải phóng, ông được phân công làm Hiệu trưởng Trường Học sinh miền Nam số 24, sau đó lần lượt làm Hiệu trưởng Trường Học sinh miền Nam số 8, rồi Hiệu trưởng Trường Học sinh miền Nam số 6.
Năm 1965, Nhà giáo nhân dân Lê Phú Lộc được Bộ Giáo dục điều động về Hà Bắc làm Phó Hiệu trưởng Trường Trung cấp Sư phạm hệ 10+2 trực thuộc Bộ - một hệ đào tạo giáo viên cấp hai toàn cấp vừa được triển khai thí điểm lúc bấy giờ. Tuy nhiên, với hơn 10 năm kinh nghiệm quản lý trường học sinh miền Nam, đến năm 1967, một lần nữa ông được Bộ Giáo dục tín nhiệm cử sang Trung Quốc làm Phó Giám đốc - Phó Bí thư Đảng ủy Khu Giáo dục Học sinh miền Nam đang sơ tán tại Quế Lâm, tỉnh Quảng Tây để tránh bom đạn khi Mỹ đã mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền Bắc.
Nơi đất khách quê người, ông càng thấy nhớ miền Nam, càng thấy nhớ làng Cẩm Toại quê ông… Ngày 31-10-1974, ông làm thủ tục nhập cảnh để trở về Tổ quốc và đến ngày 28-4-1975, tức một tháng sau ngày Đà Nẵng được giải phóng, Nhà giáo nhân dân Lê Phú Lộc nhận Quyết định số 295/QĐ của Bộ Giáo dục, do Thứ trưởng Hồ Trúc ký điều động cán bộ/giáo viên về công tác tại Ban Tổ chức Trung ương để chuẩn bị vào Nam tiếp quản ngành Giáo dục tại các tỉnh mới vừa giải phóng. Cầm trên tay bản trích sao Quyết định số 295/QĐ có hai dòng chữ đánh máy: “Trường học sinh miền Nam Quế Lâm / Lê Phú Lộc, Phó giám đốc”, ông “không khóc nhưng vẫn trào nước mắt” (bài thơ Hôn mảnh đất quê hương của Thu Bồn) và trong giây phút đầy xúc động ấy, ông thấy mình đang ở gần lắm quê nhà sau bao năm xa cách.       
Những ngày đầu giải phóng, Nhà giáo nhân dân Lê Phú Lộc được phân công làm Hiệu trưởng Trường Trung học Phan Châu Trinh Đà Nẵng. Sau khi tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng được thành lập trên cơ sở hợp nhất tỉnh Quảng Nam và Đặc khu Quảng Đà, ông trở thành Trưởng ty Giáo dục và đảm đương chức vụ này cho đến ngày nghỉ hưu năm 1981. Đây là giai đoạn chuyển đổi đầy sôi động trong lịch sử giáo dục đất Quảng, nào là chỉ có trường công không còn trường tư, nào là sự lên ngôi của tiếng Nga trong dạy-học ngoại ngữ, nào là yêu cầu tiếp cận/thích nghi với chương trình và sách giáo khoa mới, đặc biệt là các môn văn chương và lịch sử… Làm người đứng đầu ngành Giáo dục cách mạng trong giai đoạn mang tính chất tiên phong khai mở này hoàn toàn không dễ.
Thế nhưng, lặng lẽ và khiêm nhường, hóm hỉnh và đôn hậu, điềm tĩnh và tự tin, Nhà giáo nhân dân Lê Phú Lộc đã mang hết tài năng và tâm huyết của một người luôn xác định “Giáo dục cũng là một mặt trận” để hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của mình, đóng góp xứng đáng vào tiến trình phát triển giáo dục của đất Quảng nói chung, của thành phố bên sông Hàn nói riêng. Người viết bài này có cơ duyên được gặp ông lần đầu vào năm 1980 tại Nhà khách Bộ Giáo dục ở đường Lê Thánh Tôn (thành phố Hồ Chí Minh), trong hội nghị chuyên đề về giáo dục con liệt sĩ. Nghe nói tôi là người Đà Nẵng công tác tại Ty Giáo dục Đồng Nai, ông tỏ ý “chiêu dụ” tôi về quê. Năm 1981, tôi làm đơn xin về Đà Nẵng, kèm theo một bức thư riêng gửi ông để nhắc lại cuộc chuyện trò năm trước, được ông vui vẻ chấp thuận, nhưng đầu năm học 1981-1982, khi tôi được tiếp nhận về Ty Giáo dục Quảng Nam-Đà Nẵng thì ông đã nghỉ hưu...  
Tối chủ nhật ngày 14-6 năm ngoái, tôi cùng với các anh Nguyễn Hoàng Long, Huỳnh Đức Thơ, Lê Trung Chinh, Lê Quang Sơn… ngồi ăn cơm với cô Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó Chủ tịch nước, nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục thời Nhà giáo nhân dân Lê Phú Lộc đương chức Trưởng ty, thì được biết ông đang nằm hồi sức cấp cứu ở Bệnh viện C mấy hôm rồi. Nghe tin, mọi người đều rất lo lắng cho sức khỏe của ông, sợ rằng tuổi ông đã cao, bệnh tình lại nặng…
Hơn một năm trôi qua kể từ tối hôm ấy, ông vẫn nằm trên giường bệnh với sự chăm sóc tận tình của con cháu, cho đến chiều nay - mồng 5 tháng 7 năm 2016, ông từ giã cõi đời này trong niềm tiếc thương vô hạn của gia đình và họ tộc, của đồng nghiệp và học trò cũ. Mấy dòng viết vội như một nén nhang lòng thành kính thắp lên vĩnh biệt Nhà giáo nhân dân Lê Phú Lộc - người cả đời đồng hành cùng nền giáo dục cách mạng Việt Nam. Cầu mong ông được yên nghỉ nơi cõi vô cùng…  
Bùi Văn Tiếng
;
.
.

Thứ Tư, 6 tháng 7, 2016

CÁO PHÓ

Hội HSMN Quế Lâm vô cùng thương tiếc báo tin:

Thầy Lê Phú Lộc (Chúng ta vẫn thường gọi là Bác Lộc) 
Quê quán: ĐÀ NẴNG
Nguyên PGĐ Khu Giáo dục Học Sinh miền Nam, Quế Lâm
Nguyên Giám đốc Ty Giáo dục QN - ĐN
Nhà giáo Nhân dân (Nếu NN chưa phong thì dân Quế phong)
Đã từ trần hồi 13h ngày 5/7/2016 do tuổi cao sức yếu, hưởng thọ 96 tuổi!
Linh cữu quàn tại nhà tang lễ bệnh viện C, đường Quang Trung, thành phố Đà Nẵng.
Lễ viếng từ 17h 6/7/2016, an táng lúc 14h ngày 9/7/2016, tại Đà Nẵng.
Ban liên lạc HSMN Quế lâm QN - ĐN xin thông báo để các bạn Quế và Ban liên lạcHSMN Quế Lâm các tỉnh thành cả nước biết và phúng viếng thầy.

( Chi tiết: Đt anh Trần Minh Thiết: 091 9 892 646 )

Chủ Nhật, 19 tháng 6, 2016

Hội HSMN Quảng Trị gặp mặt nhân ngày HSMN

    Quảng Trị, quê cha, quê mẹ yêu thương của MF, nơi chôn rau cắt rốn của MF. Nơi MF bắt đầu hành trình làm một HSMN. Nơi có căn nhà nho nhã giản dị của tổ tiên MF để lại giữa một miền quê bọc tre xanh yên bình bao quanh đồng lúa vàng rộm thơm phức mỗi mùa về, có tên gọi Đồng Triêu mơ màng. Nơi tiếng cu gáy gù và giọng hò ru em quyện vào nhau trong những trưa hè trong veo. Rồi chiến tranh, đây là nơi đã hứng chịu vết thương chia cắt hai miền 20 năm trời đằng đẳng đau thương. Là nơi bom, đạn găm đầy trong từng mét đất, đâu đó vẫn còn cho đến tận bây giờ. Là nơi ngôi nhà khi trở về chỉ còn là hố bom và gạch vụn. Là nơi có tòa Thành Cổ chu vi chỉ 2160 mét, nhưng trong 81 ngày đêm đã chịu một lượng bom đạn ném xuống bằng sức tàn phá của 7 quả bom nguyên tử người ta từng ném xuống Hirosima lịch sử, mà Hirosima nổi tiếng thế giới từ đó chơ miếng đất này hiền hiền khuất tiếng sau những ngày dừng trút của đạn bom. Nơi bên này, bên kia giới tuyến đong đầy thương mong của những tâm tình ngày Bắc đêm Nam. Bởi nó là thế, nên đến giờ mảnh đất này vẫn nghèo, vẫn khó, cho dù vạn vật thay đổi khi quá khứ cuộc chiến đã qua đi 40 năm…
      Nghe các đại ca dìu dặt gọi mời ra họp mặt, MF bận tối mắt nhưng nói chắc nụi “em ra chớ!”. Đó là cuộc gặp mặt của hội HSMN Quảng Trị. Không biết họ đã hội họp bao giờ, nhưng lâu nay tiếng tăm của hội này khá trầm lắng. Có lẽ đó là tính cách con người Quảng Trị, chân tình mà giản dị, mạnh mẽ nhưng khiêm nhường. Tuy vậy trong MF luôn cảm nhận được sự tồn tại của hội này. Ngày mạ MF mất, hội này lặng lẽ về sắp một hàng dài thăm viếng. Dù sự ra đi của mạ làm MF rất rối lòng nhưng MF đã ghi nhận hình ảnh hàng người này rất sâu. Kêu gọi con em rồi, mà như sợ nó không ra, lại gọi tiếp, tiếng anh Cần, anh Châu, anh Bình … Kẹt cái là cái con Mazda bị thằng Quế con nó cho vào gara bảo hiểm, phải hợp tác với Quế Hồ Nga. Lúc đầu tính thuê cái xe chạy, nhưng sau hắn sắp xếp được cái xe của ông anh chồng, kéo theo thằng Quế con nhà hắn làm tài cho chị em. Trên đường đi mà các anh cứ kiểm tra: em đến đâu rồi? Cảm động rưng rưng! Đến Đông Hà thì các đại ca đã chờ trên đường quốc lộ 1 đón, mặc dù đã nói ”địa chỉ đã có, em tìm đến được mà”. Thế là cả đoàn các anh đón các em về dự buổi họp mặt.
Không khí mặn mà tình thương, dù các đại ca đang còn băn khoăn cả tên hội và cách tổ chức. Nhưng, HSMN mà, miễn được gặp lại nhau. Có đủ cả hội Đông Triều, hội Quế Lâm.

Tình cảm, nồng ấm, chân thành. Đó là cảm nhận vương vấn mãi khi MF ra về.
Anh Bính khai mạc
Anh Cần đang làm công tác tổ chức
Tâm tình của ban tổ chức

Thứ Tư, 25 tháng 5, 2016

Bạn có biết: Tổng thống nước Mỹ Obama và công nghệ hỗ trợ trong diễn thuyết?


Khi nghe Obama phát biểu, không ít người tấm tắc khen sao anh Obama giỏi thế, nói liên tục không cần giấy tờ như lãnh đạo Việt Nam.
Bài phát biểu của ông Obama làm cho người nghe thấy rất gần với suy nghĩ của người Việt. Ông trích câu thơ của Lý Thường Kiệt: 
"Sông núi nước Nam vua Nam ở
Rành rành đã định tại sách trời"
 Tôi biết chắc, người Việt nào mà chẳng mở tấm lòng khi ông Obama trích dẫn những câu thơ trên. Ông Obama nhắc đến lịch sử Việt Nam làm tôi nhớ đến giai thoại tại bàn đàm phán Hiệp định Pari ông Lê Đức Thọ có nhắc ông Kissinger cố vấn an ninh Mỹ nên nghiên cứu lịch sử Việt Nam.

Ông Obama nhắc đến bài hát "Mùa xuân đầu tiên" của nhạc sỹ Văn Cao:
"Từ nay người biết quê người
Từ nay người biết thương người"

Và còn lẩy Kiều, với:
... Nguyễn Du đã nói: "Rằng trăm năm cũng từ đây. Của tin gọi một chút này làm ghi”

Bài phát biểu của ông Obama ngay từ đầu đã đi vào lòng của người nghe Việt Nam tại Hà Nội. Khi đọc lại, tôi đoan chắc phải là người Việt Nam mới có thể soạn thảo được bài phát biểu này.

Thứ Năm, 19 tháng 5, 2016

THẦU CHÍN

Chúng tôi xuất cảnh từ Lào vào vùng Đông Bắc Thái Lan, nơi đông Việt kiều nhất đang làm ăn sinh sống . Đoàn đến tham quan Di tích Bác Hồ tại bản Nachook, nơi Bác từng hoạt động trên đất Thái từ tháng 7. 1928 đến tháng 11.1929 với bí danh Thầu Chín.
Đường vào "nhà Bác" nơi có 2 cây dừa



Một số cảnh trong khuôn viên





các bạn HSMN thắp nhang cho Bác



Ảnh Thầu Chín trong vai nhà sư


Cây khế Bác trồng thuở ấy

Làng Hữu nghị Việt- Thái do chính phủ Thái xây dựng ngay gần khu "nhà Bác".

Quế lớn chụp hình kỷ niệm


tờ báo của Bác...

Anh Tống quang Anh thay mặt Đoàn HSMN viết vào sổ lưu niệm.

Một cảnh ở Đông Bắc Thái (trên đường đến nhà Bác).

                          SG 19/5/2016

Thứ Sáu, 13 tháng 5, 2016

Tư liệu về Khu Giáo dục Học sinh Miền Nam Quế Lâm và trường Nguyễn Văn Trỗi, bạn đã biết chưa?

TƯ LIỆU VỀ HSMN
_____
Báo cáo ngày 2. 2. 1967 về việc xây dựng Trường Học sinh miền Nam ở Quế Lâm (1)

Fond Phủ Thủ tướng, Hồ sơ 18054

Thứ Bảy, 30 tháng 4, 2016

ĐÔI BỜ HIỀN LƯƠNG


   Sau Genève, lịch sử CM việt nam có một thời kỳ bi thương và thảm khốc nhất - giai đoạn “Đấu tranh thống nhất”( 54-59). Đó là lúc kẻ thù tiến hành “chiến tranh một phía”, tàn sát các chiến sĩ cộng sản và những người kháng chiến cũ ở MN ( 9/10 cán bộ, đv bị tổn thất).
 Bài “Câu hò bên bờ HL” ra đời vào lúc này. Lời ca, gai điệu da diết , trữ tình mà sao từ trong tâm khảm nghe cứ ai oán tựa dao cắt vào lòng ! Lúc này cả nước như sôi lên , nóng bỏng “ máu kêu trả máu, đầu van trả đầu”, nhất là bộ đội MN tập kết, siết chặt súng trong tay, sống quằn quại, day dứt trong cảnh “ngày Bắc, đêm Nam” mà chưa thể...
   Không khơi dậy hận thù, chỉ là một thoáng sương mờ của lịch sử. Cái giá trả cho ngày thống nhất thật khủng khiếp.
    Bốn mốt năm rồi nhỉ !  Biết bao thăng trầm, bao nhiêu máu và nước mắt ! Dân tộc đã trở về với dân tộc, đất nước vẫn giữ nguyên hình hài của nó. Nguyện vọng, ý chí thống nhất đã thấm đẫm vào trái tim, tình cảm sâu lắng, tha thiết  nhất của mỗi người VN. Nó  quá đỗi thiêng liêng vì thế !

                                                                                                 SG  30/4/2016

Cột cờ HL

Dàn loa dùng để "đấu khẩu" 2 bờ 

Cầu HL cũ được phục chế

Cổng vào cầu bờ Bắc

Cầu HL mới bên phải, cầu cũ bên trái

Từ cầu cũ nhìn sang bờ Nam

Bốt gác bờ Nam


"bảo tàng" bờ bắc

với những cái loa cỡ này thí đúng là cuộc chiến truyền thông.

Lô cốt thời Tây

Như vậy cầu HL công binh ta đã 2 lần làm lại !


Tượng Bác trong "bảo tàng".



Thứ Bảy, 16 tháng 4, 2016

Tất cả đều là thật, không chỉnh sửa, chỉ là...

Tất cả đều là ảnh thật, nhưng do có sự sắp đặt hoặc thay đổi góc nhìn hoặc vị trí quan sát mà mỗi người có một cảm nhận khác nhau với cùng một hiện tượng, hình ảnh, đó là...


Thứ Sáu, 1 tháng 4, 2016

Ở Trọ - Trịnh Công Sơn

Ngày Trịnh Công Sơn rời cuộc trọ trên đời, MF đang ở Thụy Điển, đêm 1/4/2001 tại Upssala tụi du học sinh đã làm một đêm karaoke trên laptop, chỉ hát nhạc Trịnh.
Vậy là đã 15 năm, thật là nhanh. Cuộc đời như một lời nói đùa của ngày cá tháng Tư!


Thứ Hai, 7 tháng 3, 2016

Xem lại những clip ngắn hội ngộ năm 2013 tại Đà Nẵng

Xem lại các clip ngắn, vài tấm hình, rồi những Quế cùng chuyến đi về lại tuổi thơ (Quế Lâm 2015), tôi nghộ một điều: sau bao năm gặp lại, người quen xưa thành người lạ, tất cả chỉ thoáng qua, rồi gặp nhau, từ lạ lẫm lại thấy thân quen.
Hình 1: Cùng lớp